Showing posts with label hanthi. Show all posts
Showing posts with label hanthi. Show all posts

Thursday, April 9, 2009

Thanh bình nhạc

Photobucket

Khi viết về hải đường tôi có chợt nhớ tới một câu thơ trong bài Thanh bình nhạc của Lý Bạch. Thanh bình nhạc là chùm ba bài thơ theo thể tuyệt cú của Lý Bạch được cho là viết về Dương Quý Phi. Đây là bài thứ hai trong chùm thơ này:

Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang

Tôi dịch bài thơ này như sau:

Một cành hồng thắm đượm hương sương
Non Giáp mây mưa uổng đoạn trường
Thử hỏi Hán cung ai được thế
Điểm trang Phi Yến thấy mà thương

Nghe nói đến Dương Ngọc Hoàn quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Quốc thay đổi. Trước đấy, người đẹp là người mảnh mai, nhỏ nhắn, yểu điệu, như Triệu Phi Yến nhà Hán. Đến Dương Ngọc Hoàn người đẹp là người mỹ miều, phơi phới, nồng thắm. Lý Bạch cùng thời với Dương Ngọc Hoàn, lại từng được tiếp kiến, nên miêu tả của ông, tuy mang tính ước lệ, nhưng hẳn là chân thực.

Không biết tại sao thơ ca cổ điển của Việt Nam không thấy nói đến người đẹp. Thử kể tên mười mỹ nhân Việt Nam trong lịch sử thật là khó khăn. Ngay cả chỉ cần kể tên bốn mỹ nhân Việt Nam cũng không dễ. Đặng Thị Huệ đẹp như thế nào khó mà tường tận, dù chỉ là ước lệ kiểu như "phù dung như diện, liễu như mi". Ỷ Lan có đẹp không cũng khó mà biết. Huyền Trân ra sao chẳng biết có ai hay không. Do vậy thật khó mà biết thẩm mỹ về cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử như thế nào. Không biết là do phụ nữ Việt Nam không thực đẹp để tạo cảm hứng thi ca, hay đàn ông Việt Nam "buồn thiu" không có cảm hứng về cái đẹp?

Chuyện xa xưa khó mà biết được. Còn hôm nay thì sao? Năm nào Việt Nam cũng có hoa hậu các kiểu. Nhưng quả thực, ngắm hoa hậu Việt Nam, bản thân tôi tuy không phải là người làm thơ nhưng thử tưởng tượng mình làm được thơ, cũng thấy không có thi hứng. Thật khó mà hạ bút viết được những câu như "nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương". Không phải vì không có tài như Lý Bạch, mà bởi vì ngắm các hoa hậu Việt Nam không thể nào có hứng để viết được như vậy.


Friday, December 12, 2008

Thơ Viên Mai: Ký đắc

Trong Tiểu Thương sơn phòng thi tập của Viên Mai có bài thơ Ký đắc như sau:

Ký đắc
Ký đắc nhi thời ngữ tối cuồng
Lập danh tối tiểu thị văn chương
Nhi kim bát thập bình đầu hĩ
Do vị văn chương trấn nhật mang
Viên Mai

Nhớ lại
Nhớ lúc trẻ con nói cực ngông
Nên danh thường lắm chuyện văn chương
Mà nay tám chục còn chân đất
Ngày hết văn chương vẫn vấn vương
(Đông A phiên âm và dịch thơ)

Bài thơ này bình thường, không có gì đặc sắc. Nhưng qua bài thơ có thể hiểu rất rõ câu thơ của Viên Mai làm lúc còn nhỏ: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch / Lập danh tối tiểu thị văn chương. Bài Ký đắc được Viên Mai làm vào lúc đã về già. Ông nói rất rõ ràng rằng lúc trẻ con (cước chú nói rằng ông lúc đấy 13 tuổi) ông đã phát ngôn rất ngông: lập danh tối tiểu thị văn chương. Một câu thơ ngông cuồng chỉ có thể hiểu được rằng ông đã cho lập danh bằng văn chương là chuyện nhỏ nhoi, tầm thường, không đáng, tức là một thứ công danh quèn và hèn. Đối với người xưa công danh luôn là nỗi ám ảnh thường trực. Đã sinh ra ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông hay Không công danh thời nát với cỏ cây. Và đối với họ văn chương không phải là một sự nghiệp làm nên công danh. Thơ văn có thể dùng để tu dưỡng, tâm sự hay nói nên chí của mình, nhưng không bao giờ là một sự nghiệp. Điều này rất minh bạch với người xưa. Ngay cả Đỗ Phủ có viết: văn chương thiên cổ sự / đắc thất thốn tâm tri thì câu thơ này cũng chỉ nói rằng chuyện văn chương được mất chỉ có tấc lòng hay. Nó không nói rằng văn chương là một sự nghiệp công danh ở đời. Có nhiều người cho rằng lập ngôn là làm thơ hay viết văn. Tôi cho rằng hiểu như vậy là không chính xác. Lập ngôn là một thứ lập thuyết của mình, là định hình về tư tưởng, về nhận thức, về quan niệm cuộc sống của mình. Có thể nói câu thơ Lập danh tối tiểu thị văn chương đã ám ảnh suốt cuộc đời của Viên Mai. Khi viết Tùy viên thi thoại ông đã nhắc tới. Đến khi già lão ông lại nhớ tới nó và ông nhận ra rằng công danh không phải là thứ dễ có được ngay cả bằng văn chương. Phan Bội Châu đã hiểu rất chính xác câu thơ của Viên Mai.

Photobucket

Monday, November 10, 2008

Lưu đắc khô hà thính vũ thanh

Photobucket


Tôi nhớ tới câu thơ của Lý Nghĩa Sơn. "Lưu đắc khô hà thính vũ thanh", còn lại mỗi sen tàn để nghe tiếng mưa. Nỗi buồn mùa thu hiu hắt vời vợi. Mọi thứ đã trở nên xa xôi, đã rời xa, chẳng còn gì ở đây nữa, chỉ còn nhúm sen tàn như một niềm an ủi cuối cùng với chút hy vọng mong manh được nghe tiếng mưa thu rơi trên lá sen khô. Mưa rơi không có tiếng, nhưng va đập vào những vật khác tạo ra âm thanh. Va vào không khí tạo ra tiếng mưa trong trời đất. Rơi xuống lá cây, rơi xuống mái hiên lại tạo ra những âm thanh khác. Người xưa nghe tiếng mưa rơi trên tàu lá chuối có thể không ngủ được suốt đêm. Câu thơ cổ điển đẹp kỳ lạ. Tôi không hiểu tại sao nó lại đẹp như thế, mà lại không cũ kỹ, xa lạ. Tôi như thấy Nghĩa Sơn đang cô độc ở một mái đình bên cạnh hồ sen mùa thu. Người xưa nhớ nhau có thể gọi là tương tư. Ngày nay đàn ông nhớ nhau không thể dùng tương tư được nữa. "Tương tư lọ phải là trai gái" đã là một quá vãng xa xôi. Tiếng mưa rơi trên lá sen hẳn phải là một kỷ niệm giữa Nghĩa Sơn và anh em họ Thôi, để giờ đây khi mỗi người mỗi ngả nhìn thấy sen tàn những ký ức dĩ vãng chợt ùa về như nỗi tương tư, như nỗi nhớ xa xôi, bồi hồi theo tàu lá úa. Mùa thu, mọi người đua nhau đi ngắm lá phong vàng, không ai đi nhìn đầm sen úa. Mùa hạ đã qua còn ai "thưởng lục hà trì"? Những chiếc lá sen khô, như dấu ấn của thời gian, lưu lại trên mình những khoảnh khắc của thời gian đã qua. Một tiếng mưa thôi sẽ òa vỡ trên lá sen khô. Bao giờ lại gặp mùa thu để nghe tiếng mưa rơi trên lá sen khô?

Túc Lạc thị đình ký hoài Thôi Ung, Thôi Cổn

Trúc ổ vô trần thủy hạm thanh
Tương tư điều đệ cách trùng thành
Thu âm bất tản sương phi vãn
Lưu đắc khô hà thính vũ thanh
Lý Thương Ẩn

Ở đình họ Lạc nhớ nhung Thôi Ung, Thôi Cổn

Hiên nước trong xanh trúc mướt bờ
Xa xôi cách trở nhớ khôn vừa
Bóng thu bảng lảng chiều sương đổ
Còn mỗi sen tàn hóng tiếng mưa
(Đông A dịch)

Tuesday, February 5, 2008

Đái Thúc Luân: Trừ dạ túc Thạch đầu dịch

除夜宿石頭驛

旅館誰相問
寒燈獨可親
一年將盡夜
萬里未歸人
寥落悲前事
支離笑此身
愁顏與衰鬢
明日又逢春
戴叔倫


Trừ dạ túc Thạch đầu dịch

Lữ quán thùy tương vấn
Hàn đăng độc khả thân
Nhất niên tương tận dạ
Vạn lý vị qui nhân
Liêu lạc bi tiền sự
Chi ly tiếu thử thân
Sầu nhan dữ suy mấn
Minh nhật hựu phùng xuân

Đái Thúc Luân

Đêm cuối năm nghỉ tại nhà trạm Thạch đầu

Quán trọ ai thăm hỏi
Bạn thân đèn lạnh thôi
Cuối năm đêm sắp hết
Ngàn dặm người chưa rời
Việc cũ buồn hiu quạnh
Thân lưu lạc ngượng cười
Mặt sầu thưa tóc cỗi
Mai lại gặp xuân rồi

(Đông A dịch)

Tuesday, January 1, 2008

Cao Bá Quát: Lập xuân hậu nhất nhật tân tình

立春後一日新晴

去日春來破舊寒
今朝紅紫鬥千般
何當世事如花事
風雨江山盡改觀
高伯适

Lập xuân hậu nhất nhật tân tình

Khứ nhật xuân lai phá cựu hàn
Kim triêu hồng tử đấu thiên ban
Hà đương thế sự như hoa sự
Phong vũ giang san tận cải quan
Cao Bá Quát

Hửng nắng mới một ngày sau lập xuân

Rét cũ hôm qua xuân phá tan
Sáng nay hồng tía nở đua tràn
Bao giờ thế sự như hoa đấy
Mưa gió non sông đổi cảnh quan
(Đông A dịch)


Wednesday, December 26, 2007

Cao Bá Quát: Trệ vũ chung dạ cảm tác

滯雨終夜感作

細雨霏霏夜閉門
孤燈明滅悄無言
天邊征客
閨中婦
何處相思不斷魂
高伯适

Trệ vũ chung dạ cảm tác

Tế vũ phi phi dạ bế môn
Cô đăng minh diệt tiễu vô ngôn
Thiên biên chinh khách khuê trung phụ
Hà xứ tương tư bất đoạn hồn
Cao Bá Quát

Mưa dầm suốt đêm cảm tác

Lất phất mưa đêm đóng cửa phòng
Lặng câm mờ tỏ ngọn đèn chong
Kẻ nơi viễn xứ người khuê phụ
Đâu chốn tương tư chẳng não lòng
(Đông A dịch)


Monday, December 3, 2007

Văn Thiên Tường: Kim Lăng dịch

金陵驛 - 其一
草合離宮轉夕暉
孤雲飄泊複何依
山河風景元無異
城郭人民半已非
滿地蘆花和我老
舊家燕子傍誰飛
從今別卻江南路
化作啼鵑帶血歸
文天祥

Kim Lăng dịch - kỳ nhất

Thảo hợp ly cung chuyển tịch huy
Cô vân phiêu bạc phức hà y
Sơn hà phong cảnh nguyên vô dị
Thành quách nhân dân bán dĩ phi
Mãn địa lô hoa hòa ngã lão
Cựu gia yến tử bạng thùy phi
Tòng kim biệt khước Giang Nam lộ
Hóa tác đề quyên đái huyết quy

Văn Thiên Tường

Trạm Kim Lăng - bài một

Cỏ ngợp hành cung bóng tịch dương
Mây cô phiêu bạc lớp nào vương
Non sông phong cảnh không thay đổi
Thành quách nhân dân nửa thảm thương
Khắp chốn hoa lau tàn giống tớ
Nhà xưa chim én lượn đâu nương
Từ nay giã biệt Giang Nam mãi
Hóa cuốc về kêu rỏ máu trường

金陵驛 - 其二
萬里金甌失壯圖
袞衣顛倒落泥塗
空流杜宇聲中血
半脫驪龍頷下鬚
老去秋風吹我惡
夢回寒月照人孤
千年成敗俱塵土
消得人間說丈夫
文天祥

Kim Lăng dịch - kỳ nhị

Vạn lý kim âu thất tráng đồ
Cổn y điên đảo lạc nê đồ
Không lưu đỗ vũ thanh trung huyết
Bán thoát ly long hạm hạ tu
Lão khứ thu phong xuy ngã ố
Mộng hồi hàn nguyệt chiếu nhân cô
Thiên niên thành bại câu trần thổ
Tiêu đắc nhân gian thuyết trượng phu

Văn Thiên Tường

Trạm Kim Lăng - bài hai

Muôn dặm non sông nát địa đồ
Long bào điên đảo rớt bùn thô
Chỉ còn tiếng cuốc kêu trong máu
Nửa xác xơ bờm vó ngựa ô
Già bỏ gió thu lùa xấu hổ
Mộng về trăng lạnh chiếu đơn cô
Ngàn năm thành bại đều tro bụi
Hết được nhân gian kể trượng phu

(Đông A dịch)

Tháng 3 năm 1279 Văn Thiên Tường bị áp giải vào triều Nguyên ở Yên Kinh. Trên đường đi, tới Kim Lăng, ông làm hai bài thơ Kim Lăng dịch này.

Sách Sưu thần hậu ký có chép: Ở Liêu Đông có người tên Đinh Lệnh Uy tới núi Linh Hư học đạo, sau hóa thành chim hạc bay về đất Liêu, đậu trên cột hoa biểu ở cổng thành. Có cậu thiếu niên giương cung định bắn, hạc bay lên không trung mà ca rằng: " Có chim, có chim Đinh Lệnh Uy / Xa nhà ngàn năm nay mới về / Thành quách như xưa, dân đã khác / Sao không học đạo mộ trùng trùng" ("Hữu điểu, hữu điểu Đinh Lệnh Uy / Khứ gia thiên niên kim thủy quy / Thành quách như cố nhân dân phi / Hà bất học tiên trủng lũy lũy"). Chiến tranh Tống - Nguyên, Kim Lăng chiến họa, dân bị tử vong quá nửa.

Lưu Vũ Tích thời Đường có bài thơ Ô y hạng, trong đó có câu: "Cựu thì Vương Tạ tiền đường yến / Phi nhập tầm thường bách tính gia" (Chim én ở nhà họ Vương, họ Tạ ngày trước, giờ bay vào nhà dân thường).

Nguyễn Du khi đi sứ sang Trung Quốc có làm bài thơ Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng (Qua sông Hoài nhớ Văn thừa tướng), trong đó có câu: "Ai trung xúc xứ minh kim thạch / Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên" ("Lòng thơm chạm trổ lời kim thạch / Máu hận trào sôi kiếp tử quy", Quách Tấn dịch). Đỗ quyên, còn gọi là đỗ vũ hay tử quy là chim cuốc. Tương truyền do vua Thục mất nước hóa thành. Tiếng kêu ai oán như rỏ máu. Nguyễn Khuyến có bài thơ Cuốc kêu cảm hứng:
"Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ / Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ / Năm canh máu chảy đêm hè vắng / Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ / Có phải tiếc xuân mà đứng gọi / Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ / Thâu canh ròng rã kêu ai đó / Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ".

Friday, October 5, 2007

Ôn Đình Quân: Thương sơn tảo hành

商山早行

晨起動征鐸
客行悲故鄉
雞聲茅店月
人跡板橋霜
槲葉落山路
枳花明驛牆
因思杜陵夢
鳧雁滿迴塘
溫庭筠

Thương sơn tảo hành

Thần khởi động chinh đạc
Khách hành bi cố hương
Kê thanh mao điếm nguyệt
Nhân tích bản kiều sương
Hộc diệp lạc sơn lộ
Chỉ hoa minh dịch tường
Nhân tư Đỗ Lăng mộng
Phù nhạn mãn hồi đường
Ôn Đình Quân


Sớm đi ở Thương sơn

Mờ sớm chuông khua rộn
Người đi thương cố hương
Điếm tranh gà gáy nguyệt
Cầu ván khách in sương
Lá hộc rụng rơi lối
Hoa gai rực rỡ tường
Đỗ Lăng hoài giấc mộng
Le nhạn đầy đê đường.
(Đông A dịch)

Bài thơ này tôi dịch cũng đã lâu rồi. Trong hoài niệm về thời gian đã mất tôi lục tìm lại. Tôi dịch bài thơ này vì có một lý do rất đơn giản. Tôi không tìm thấy bài thơ này trong các quyển sách về Đường thi tiếng Việt mà tôi được đọc. Tôi không biết tại sao người ta lại không đưa bài thơ này vào các quyển sách đó. Giở các quyển sách đó bao giờ cũng thấy "Giang hải tương phùng khách hận đa", đọc mãi phát chán. Tôi đọc truyện Kiều, biết được câu thơ "Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương" từ câu thơ của Ôn Phi Khanh. Tôi lại càng ngạc nhiên, sao bấy lâu nay đọc truyện Kiều mọi người thấy chú giải "Kê thanh mao điếm nguyệt / Nhân tích bản kiều sương" là đầy đủ, thỏa mãn hay sao? Tôi muốn biết nhiều hơn. Tôi muốn biết cả bài thơ có hai câu thơ đấy. Lúc đấy chưa có Google, chưa có Toàn Đường thi bản điện tử, tìm được bài thơ này của Phi Khanh không dễ chút nào. Một lần lang thang trên mạng, tôi tìm được bản chữ Hán của bài thơ này. Tôi không còn nhớ ở trang nào, nhưng là một trang giới thiệu các nhà thơ thời Đường, tuyển chọn khá nhiều, nhiều hơn Tam bách thủ. Tôi dịch bài thơ này khá nhanh. Bản dịch lần đầu tôi đã dịch "Cầu ván người in sương". Trong cảm thụ của tôi, "Cầu ván người in sương" đọc lên nhịp điệu rất êm dịu, tuy thanh của tiếng "người" và "tôi" cùng thanh bằng, hơi trái luật thanh hài hòa thông thường. Sau đó bản dịch được lưu trữ trên mạng ở một nơi, mà giờ tôi không nhớ là các bạn ở đấy biết được bản dịch của tôi từ nguồn nào. Một bạn phụ trách ở đấy đã đề nghị tôi sửa lại chữ "người" thành chữ "khách". Tôi đã đồng ý sửa lại, thành bản dịch như ngày nay, vẫn còn lưu trong cõi ảo này.

Thursday, October 4, 2007

Lục Du: Lâm An xuân vũ sơ tễ

臨 安 春 雨 初 霽

世 味 年 來 薄 似 紗
誰 令 騎 馬 客 京 華
小 樓 一 夜 聽 春 雨  
深 巷 明 朝 賣 杏 花
矮 紙 斜 行 閑 作 草  
晴 窗 細 乳 戲 分 茶
素 衣 莫 起 風 塵 嘆  
猶 及 清 明 可 到 家
陸游

Lâm An xuân vũ sơ tễ

Thế vị niên lai bạc tự sa  
Thùy linh kỵ mã khách kinh hoa
Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ  
Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa
Nụy chỉ tà hành nhàn tác thảo  
Tình song tế nhũ hý phân trà
Tố y mạc khởi phong trần thán  
Do cập Thanh minh khả đáo gia
Lục Du

Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An

Năm tới vị đời mỏng tựa sa
Ai xui ruổi ngựa khách phồn hoa
Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng
Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra
Giấy xấu nét xiên đành viết thảo
Song hừng búp nhỏ bỡn pha trà
Áo tơ gió bụi than đừng nổi
Kịp đến Thanh minh trở lại nhà
(Đông A dịch)



"Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ..."

Nguyễn Tuân có kể thú tao nhã của một người khi đọc cổ thi cứ phải thắp nến bạch lạp. Tôi không có cái phong nhã đó. Nhưng những câu thơ cổ xưa đấy cứ phải đọc bằng âm Hán-Việt mới cảm được phong vị của chúng. "Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ", gác nhỏ một đêm nghe mưa xuân. Uất Đạt Phu khi viết về mưa đã nhắc tới câu thơ này. Cổ Long cũng đề câu thơ này lên thanh loan đao cong cong. Cổ Long viết câu thơ này trên thanh loan đoan ngụ ý về một người con gái. Tôi nghĩ về Lục Phóng Ông. Câu thơ của ông có ngụ ý về một người con gái nào không? Ông viết bài thơ này trong một mùa xuân, điều đó hẳn rồi. Song tôi cứ nghĩ ông viết khi mùa xuân vừa mới sang. Xuân sang với họ Lục phỏng còn hứng khởi gì khi nơi vườn Thẩm "thương tâm kiều hạ xuân ba lục; tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai", khi làn sóng xuân xanh biếc dưới cầu lại là nơi từng soi bóng cánh hồng kinh sợ. Một bóng hồng lẻ loi kinh sợ trên dòng nước biếc, một bóng người chong đêm trên gác nhỏ nghe mưa. Sao tất cả cứ phải trong một mùa xuân, trong một ngày xuân vừa mới đến? Ôi mùa xuân, "mùa xuân đã qua bao giờ?", để tiếng mưa rơi không còn là tiếng mưa nữa, mà đã là tiếng mưa xuân, tiếng mưa không rào rào của mùa hạ, không quạnh hiu của mùa thu, không lạnh lẽo của mùa đông. Tiếng mưa xuân, tiếng mưa nhỏ nhẹ ấm áp đó, có phải chăng đúng là tiếng mưa của tự nhiên hay đó là tiếng mưa lòng như những giọt lệ nhỏ nhẹ ấm áp âm thầm đổ trên gác nhỏ tịch liêu? Vườn Thẩm không còn trong thơ nữa, nhưng tôi vẫn thấy bóng hình vườn Thẩm trên gác nhỏ một đêm nghe mưa xuân.

PS: Đoạn văn trên tôi từng đăng ở một forum. Bây giờ có bạn nhắc đến, tôi chợt nhớ tới. Nhớ lại những nơi tôi đã từng qua, những dấu vết còn lại. Bài thơ này tôi dịch cũng vào một tiết xuân, trong một phòng trọ ở một nơi giá lạnh. Mỗi khi đọc lại các bản dịch của mình, tôi đều cố nhớ lại khung cảnh mà tôi tiến hành dịch. Mỗi một bản dịch như dấu bước chân nơi tôi từng qua. Giờ đăng lại ở đây như một hồi tưởng về những tháng ngày mờ xa trong dĩ vãng. Khi mở đầu viết blog, tôi có dẫn câu nói trong Luận ngữ "Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?", và vẫn luôn chờ những niềm vui nho nhỏ như vậy.

Friday, April 6, 2007

Cao Bá Quát: Độc dạ cảm hoài

獨 夜 感 懷

新 漲 生 殘 夜
初 寒 送 渺 秋
歲 時 雙 病 眼
天 地 一 詩 囚
倚 枕 看 長 劍
呼 燈 檢 敝 裘
彊 憐 心 力 在
羈 臥 不 禁 愁
高伯适

Độc Dạ Cảm Hoài

Tân trướng sinh tàn dạ
Sơ hàn tống miểu thu
Tuế thời song bệnh nhãn
Thiên địa nhất thi tù
Ỷ chẩm khan trường kiếm
Hô đăng kiểm tệ cừu
Cưỡng liên tâm lực tại
Cơ ngọa bất câm sầu
Cao Bá Quát

Dịch thơ:

Đêm một mình cảm nghĩ

Triều mới dâng đêm hết

Cuối thu chớm lạnh đưa
Tháng ngày đôi mắt bệnh
Trời đất một tù thơ
Tựa gối gươm dài ngó
Kêu đèn áo rách giơ
Gượng thương tâm lực có
Nằm nhốt sầu khôn ngơ
(Đông A dịch)

Trong lịch sử nhân loại có không ít nhà thơ chịu tù đầy, nhưng đã có mấy ai cảm nhận mình là một "thi tù". Từ thi thánh Đỗ Phủ đến thi bá Nguyễn Du đều từng chịu giam cầm nhưng nào có thấy cảm nhận tình thế một tù thơ như Cao Bá Quát. Cũng phải nói rằng hai chữ "thi tù" không phải là một phát kiến của Cao Bá Quát. Thời Tống nhà thơ Nguyên Hiếu Vấn từng sử dụng hai chữ này để chỉ Mạnh Giao. Trong "Luận thi tuyệt cú" Nguyên Hiếu Vấn viết

東野窮愁死不休
高天厚地一詩囚
江山萬古潮陽筆
合在元龍百尺樓
元好問

Đông Dã cùng sầu tử bất hưu
Cao thiên hậu địa nhất thi tù
Giang sơn vạn cổ Triều Dương bút
Hợp tại Nguyên Long Bách xích lâu
Nguyên Hiếu Vấn

Đến chết Mạnh Giao chẳng hết sầu
Tù thơ lồng lộng đất trời sâu
Non sông muôn thủa Triều Dương bút
Góp tại Nguyên Long Bách xích lầu
(Đông A dịch)

Nhưng khái niệm "thi tù" của Nguyên Hiếu Vấn hơi khác với khái niệm "thi tù" của Cao Bá Quát. Nguyên Hiếu Vấn muốn ám chỉ Mạnh Giao khổ sở vì thơ, trói buộc vào thơ, bị thơ cầm tù. Cao Bá Quát cũng là một tù thơ, nhưng là một tù nhân thơ, bị thế nhân cầm tù, vì thơ mà bị cầm tù chứ không phải bị thơ cầm tù. Nỗi đau của các thi nhân, nỗi khổ của các nhà thơ, từ Đông sang Tây, từ cổ tới kim, có nỗi đau nào giống nỗi đau nào, có nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào. Tất cả đều qua đi, những bóng lẻ loi chiếu lên thời gian, chỉ còn lại những chữ rỏ máu từ tận đáy lòng.

Francis Fukuyama viết:
“Những hoàn cảnh cách mạng không thể xảy ra ngoại trừ, ít nhất có một số người liều mình hi sinh mạng sống và những tiện nghi của mình cho một mục đích nào đấy. Sự can đảm ấy không thể khởi từ phần ham muốn của tâm hồn, mà phải là từ phần cảm nhận bẩm sinh của con người về công lý. Con người của dục vọng, con người kinh tế, những trưởng giả thực thụ, sẽ hành xử từ trong ‘phân tích - giá cả - lợi nhuận,’ điều này sẽ luôn cho anh ta lý do để làm việc ‘trong khuôn khổ hệ thống.’ Chỉ có những con người hành xử theo cảm nhận bẩm sinh của con người về công lý, con người nổi giận, con người lo lắng bảo vệ nhân phẩm cho chính mình và đồng bào của mình, con người cảm nhận giá trị của anh ta được tạo nên từ một cái gì khác hơn là phức hợp những dục vọng đã tạo nên sự hiện hữu vật chất cuả anh ta - chỉ có những con người này mới sẵn lòng bước tới trước đầu xe thiết giáp hoặc đương đầu với các binh sĩ (đàn áp). Và thường là trong các trường hợp, nếu không có những hành động can đảm nho nhỏ này để đáp trả với những hành động bất công nho nhỏ (tương ứng), thì toa xe chở những biến động đưa tới những thay đổi căn bản trong cấu trúc chính trị và kinh tế sẽ chẳng bao giờ xảy ra.” (theo Song Vũ, Talawas)

Tôi nghĩ con người mà Fukuyama nói đến, chính là Cao Bá Quát. Trên bình diện này có thể thấy sự khác nhau về bản chất con người giữa Chu Thần và Phương Đình, tuy hai người hay được nhắc đến như những người bạn thân, tài giỏi và nổi tiếng một thời. Không phải ai cũng có thể viết được "Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn / Mục Dã, Minh Đường hữu Võ Thang".

Tôi cứ nghĩ về hoa mai, về cặp liên đối của Cao Bá Quát

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa"

Không biết hoa mai có còn nở báo xuân về mỗi độ nữa không?



Friday, March 2, 2007

Lý Thương Ẩn: Vô đề



VÔ ĐỀ
Lý Thương Ẩn


Bài vô đề đầu tiên của Lý Nghĩa Sơn mà tôi được đọc là bài "Tương kiến thời nan..." ở trong tập Đường Thi do Nam Trân chủ biên của Nhà xuất bản Văn học. Lúc đó tôi cứ tưởng Lý Nghĩa Sơn chỉ có một bài vô đề. Sau đọc Đường thi tam bách thủ thấy có bốn bài thơ vô đề của Lý Nghĩa Sơn. Sau đấy lại biết thêm hai bài thơ vô đề nữa, tổng cộng biết sáu bài thơ vô đề của Lý Nghĩa Sơn. Khi mạng internet phát triển Toàn Đường thi được số hóa , tra cứu dễ dàng thuận tiện mới biết Lý Nghĩa Sơn làm khá nhiều bài vô đề, đủ loại thất ngôn, ngũ ngôn, bát cú , tứ tuyệt.

Trong Tùy viên thi thoại Viên Mai có nói: "Thơ không có đề mục là tiếng thiên nhiên, thơ có đề mục là tiếng của người, tiếng thiên nhiên dễ hay, tiếng của người khó hay." Thơ Lý Nghĩa Sơn không có đề mục hay là có đề mục là "Vô đề"?

Lúc dịch bài vô đề "Văn đáo Xương môn Ngạc Lục Hoa", tôi đã không biết Ngạc Lục Hoa là tên một tiên nữ, cứ tưởng là cái đài lục hoa gì đó, tuy đã thấy lạ chữ hoa (華) không phải là chữ hoa (花). Sau mới biết là mình nhầm, chưa thông điển tích. Đọc chữ Hán thật khó phân biệt danh từ riêng vì không có kiểu viết hoa để phân biệt.

Đông A



昨夜星辰昨夜風
畫樓西畔桂堂東
身無彩鳳雙飛翼
心有靈犀一點通
隔坐送鉤春酒暖
分曹射覆蠟燈紅
嗟余聽鼓應官去
走馬蘭臺類轉蓬

Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong
Họa lâu tây bạn quế đường đông
Thân vô thái phượng song phi dực
Tâm hữu linh tê nhất điểm thông
Cách tọa tống câu xuân tửu noãn
Phân tào xạ phúc lạp đăng hồng
Ta dư thính cổ ưng quan khứ
Tẩu mã lan đài loại chuyển bồng

Sao sáng đêm qua gió lộng không
Bên tây lầu vẽ quế đường đông
Thân nào cánh phượng bay muôn sắc
Tâm sẵn sừng tê điểm cảm thông
Chuốc rượu xuân nồng ngồi cách biệt
Chia bên đùa bắn dưới đèn hồng
Ôi nghe trống giục đi chầu chúa
Phóng ngựa lên đài tựa cỏ bồng


來是空言去絕蹤
月斜樓上五更鐘
夢為遠別啼難喚
書被催成墨未濃
蠟照半籠金翡翠
麝薰微度繡芙蓉
劉郎已恨蓬山遠
更隔蓬山一萬重


Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung

Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán
Thư bị thôi thành mặc vị nùng
Lạp chiếu bán lung kim phỉ thúy
Xạ huân vi độ tú phù dung
Lưu lang dĩ hận Bồng sơn viễn
Cánh cách Bồng sơn nhất vạn trùng

Ðến chẳng nói năng biến tuyệt tung
Canh năm chuông điểm gác trăng suông
Mộng làm xa cách kêu khôn tiếng
Thư bị thúc thôi mực chẳng nồng
Nến chiếu lung linh chim phỉ thúy
Hương thơm thoang thoảng gấm phù dung
Chàng Lưu vốn hận non Bồng thẳm
Lại cách Bồng sơn cả vạn trùng

颯颯東風細雨來
芙蓉塘外有輕雷
金蟾嚙鎖燒香入
玉虎牽絲汲井回
賈氏窺簾韓掾少
宓妃留枕魏王才
春心莫共花爭發
一寸相思一寸灰

Táp táp đông phong tế vũ lai
Phù dung đường ngoại hữu khinh lôi
Kim thiềm niết tỏa thiêu hương nhập
Ngọc hổ khiên ti cấp tỉnh hồi
Giả thị khuy liêm Hàn duyện thiếu
Mật phi lưu chẩm Ngụy vương tài
Xuân tâm mạc cộng hoa tranh phát
Nhất thốn tương tư nhất thốn hôi

Rào rạt gió đông mưa nhẹ lan
Ngoài ao sen vẳng sấm vang ran
Cóc vàng ngậm khóa thiêu hương tỏa
Hổ ngọc quay dây múc giếng tràn
Trao gối Mật phi tài chúa Ngụy
Liếc rèm Giả thị trẻ quan Hàn
Lòng xuân chớ với hoa đua nở
Một tấc tương tư một tấc tàn


相見時難別亦難
東風無力百花殘
春蠶到死絲方盡
蠟炬成灰淚始幹
曉鏡但愁雲鬢改
夜吟應覺月光寒
蓬山此去無多路
青鳥殷勤為探看

Tương kiến thì nan biệt diệc nan
Đông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử ti phương tận
Lạp cự thành hôi lệ thủy can
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan


Đã khó gặp nhau lại khó xa
Gió đông sức cạn rụng trăm hoa
Tằm xuân đến thác tơ đành dứt
Nến sáp khi tàn lệ kiệt sa
Sớm ngắm chạnh buồn mây tóc điểm
Đêm ngâm chợt cảm lạnh trăng tà
Bồng lai đến đó khôn nhiều lối
Dò hỏi chim xanh hậu giúp mà


鳳尾香羅薄幾重
碧文圓頂夜深縫
扇裁月魄羞難掩
車走雷聲語未通
曾是寂寥金燼暗
斷無消息石榴紅
斑騅只系垂楊岸
何處西南待好風

Phượng vĩ hương la bạc kỷ trùng
Bích văn viên đính dạ thâm phùng
Phiến tài nguyệt sắc tu nan yểm
Xa tẩu lôi thanh ngữ vị thông
Tằng thị tịch liêu kim tẫn ám
Đoạn vô tiêu tức thạch lựu hồng
Ban chuy chỉ hệ thùy dương ngạn
Hà xứ tây nam nhiệm hảo phong

Phượng vĩ màn hương mỏng mấy trùng
Canh khuya dệt biếc vấn tầng không
Quạt xòe sắc nguyệt che khôn khuất
Xe chạy vang ầm nói chẳng thông
Đây vốn tịch liêu tàn lửa ám
Nào hay tin tức lựu hoa hồng
Ngựa chuy chỉ buộc bên bờ liễu
Đâu chốn tây nam nhận gió nồng


重帷深下莫愁堂
臥後清宵細細長
神女生涯原是夢
小姑居處本無郎
風波不信菱枝弱
月露誰教桂葉香
直道相思了營益
未妨稠悵是清狂

Trùng duy thâm há Mạc Sầu đường
Ngọa hậu thanh tiêu tế tế trường
Thần nữ sinh nhai nguyên thị mộng
Tiểu cô cư xứ bản vô lang
Phong ba bất tín lăng chi nhược
Nguyệt lộ thùy giao quế diệp hương
Trực đạo tương tư liễu vô ích
Vị phương trù trướng thị thanh cuồng

Mạc Sầu nhà kín lớp màn buông
Nằm nghỉ đêm dài lướt mãi không
Thần nữ bến sinh nguyên giấc mộng
Tiểu cô nơi trú bặt đàn ông
Chẳng tin sóng gió mềm nhành ấu
Ai khiến trăng sương ngát quế nồng
Đã biết tương tư nào có ích
Nên chưa buồn thảm hóa thanh cuồng


白道縈迴入暮霞
斑騅嘶斷七香車
春風自共何人笑
枉破陽城十萬家

Bạch đạo oanh hồi nhập mộ hà
Ban chuy tê đoạn thất hương xa
Xuân phong tự cộng hà nhân tiếu
Uổng phá Dương thành thập vạn gia

Đường vắng quanh co nhập ráng tà
Ngựa chuy chốc hý thất hương xa
Gió xuân cứ thổi ai cười nhỉ
Uổng phá thành Dương khắp mọi nhà

聞到閶門萼綠華  
昔年相望抵天涯
豈知一夜秦樓客  
偷看吳王苑內花

Văn đáo Xương môn ngạc lục hoa
Tích niên tương vọng đế thiên nha
Khởi tri nhất dạ Tần lâu khách
Thâu khán Ngô vương uyển nội hoa

Nghe nói Xương môn có Lục Hoa
Năm xưa cùng ước tới thiên hà
Há hay khách gác Tần đêm ấy
Vườn uyển cung Ngô trộm ngắm hoa


Lý Bạch: Quan san nguyệt

QUAN SAN NGUYỆT

LÝ BẠCH

關 山 月

明 月 出 天 山
蒼 茫 雲 海 間
長 風 幾 萬 里  
吹 度 玉 門 關
漢 下 白 登 道  
胡
窺 青 海 灣
由 來 征 戰 地  
不
見 有 人 還
戍 客 望 邊 色
思 歸 多 苦 顏
高 樓 當 此 夜
歎 息 未 應 閒
李 白

Quan san nguyệt


Minh nguyệt xuất Thiên san
Thương mang vân hải gian
Trường phong kỷ vạn lý
Xuy độ Ngọc môn quan
Hán hạ Bạch đăng đạo
Hồ khuy Thanh hải loan
Do lai chinh chiến địa
Bất kiến hữu nhân hoàn
Thú khách vọng biên sắc
Tư quy đa khổ nhan
Cao lâu đương thử dạ
Thán tức vị ưng nhàn
Lý Bạch

Trăng quan san


Trăng sáng ló Thiên san
Mênh mang mây núi ngàn
Gió lùa bao vạn dặm
Tới ải Ngọc môn quan
Quân Hán Bạch đăng trấn
Rợ Hồ Thanh hải càn
Xưa nay nơi chiến địa
Mấy kẻ về an toàn
Khách thú ngắm biên tái
Nhớ nhà mặt khổ nhăn
Lầu cao đương tối đấy
Có kẻ không ngừng than
(Đông A dịch)

Tôi thích đọc "quan san" hơn là "quan sơn". Hai vần trùng nhau, âm hưởng dài, tạo cảm giác man mác. Dẫu có không hiểu "quan san" có nghĩa gì thì đọc lên vẫn thấy buồn buồn, như lau sậy xào xạc, như hơi thu hiu hắt, như biên tái chiều buông. Trăng quan san, màu quan san là trăng gì, màu gì, có thể ta không biết, nhưng cảm giác buồn thì không sao tránh được. Chữ nghĩa thật kỳ lạ. Nhạc phủ xếp Quan san nguyệt là "hoành xúy khúc", vốn không có lời, người đời nhân theo chủ đề ly biệt thương cảm nơi quan san biên tái làm thơ, viết thành tên bài Quan san nguyệt. Tôi chưa một lần lên dãy Thiên san, chưa một lần ngắm trăng biên tái, nghe khúc Trăng quan san thấy man mác quạnh hiu. Trăng từ ngàn xưa đều vậy, có nơi nào khác nơi nào, mà sao nơi quan san riêng lại nhuốm màu thương cảm biệt ly ?

"Đêm nay tôi ngắm trăng
Và nhìn chòm Mão lặn
Nửa đêm giờ đã sang
Tuổi trẻ còn đâu nữa
Lẻ loi tôi trên giường"
(Thơ Sappho, Đông A dịch)

Nàng Muse thứ mười của Hy Lạp cô quạnh trong ánh trăng. Nhưng đó là ánh trăng trên đảo Lesbos, đâu đã phải trăng quan san. Đó là sự cô độc của thời gian. Đó không phải là tịch liêu của không gian. Càng bao la, càng mênh mang, càng bát ngát càng hiu hắt tịch liêu. Con người chìm trong không gian vô hạn đó, lại chưa thể hòa đồng nhất thể với vạn vật, tách biệt, đối lập thành một chủ thể riêng rẽ với xung quanh, kết cục thành cô liêu. Đó phải chăng là trăng quan san? Một hình, một bóng giữa non nước mây ngàn nơi quan san vạn lý.

Tuesday, February 27, 2007

Ôn Đình Quân: Hiệp khách hành

Ôn Đình Quân: Hiệp khách hành

俠 客 行
欲 出 鴻 都 門
陰 雲 蔽 城 闕
寶 劍 黯 如 水
微 紅 溼 餘 血
白 馬 夜 頻 驚
三 更 霸 陵 雪
溫 庭 筠


Hiệp khách hành
Dục xuất Hồng đô môn
Âm vân tế thành khuyết
Bảo kiếm ảm như thuỷ
Vi hồng thấp dư huyết
Bạch mã dạ tần kinh
Tam canh Bá Lăng tuyết
Ôn Đình Quân


Muốn vượt cửa Hồng đô
Mây đùn lấp thành khuyết
Kiếm báu sẫm như nước
Tia hồng loáng dư huyết
Ngựa bạch hí luôn đêm
Canh ba cầu Bá tuyết
(Đông A dịch)

Ngô Thì Nhậm có nói: "
Ta thường nghĩ người đời có bốn điều không thể biết, đó là chơi hoa châu lan không biết thơm, uống trà Long Tỉnh không biết ngon, nghe khúc điệu cung đình không biết vui, đọc thơ Cầm sắt không biết hay. Bởi vì bốn cái ấy thanh cao quá. Tuy thế, đó là nói khi chưa biết mà thôi, còn khi đã biết rồi, thì ở dưới trời này, những cái được gọi là hoa, là trà, là khúc, là thơ, có cái gì lại cao diệu hơn thế!"

Khi đọc Đường thi tôi thường bất giác nhớ tới câu nói này của Hy Doãn. Hương hoa châu lan, vị trà thanh thủy đó, làm sao có thể diễn đạt bằng lời?

Khi nói tới Hiệp khách hành người đời thường nghĩ ngay đến bài hành của Lý Thái Bạch. Riêng tôi lại thích bài hành này của Ôn Phi Khanh. Vận trắc đọc có vẻ khó khăn trúc trắc, nhưng dường như hàm chứa hùng khí trong đó. Hành mà diễm lệ thì có còn phải là hành nữa không?

Không biết bài hành này có nhạc phổ không? [Bài này có bản tân nhạc ở đây]