Wednesday, August 27, 2008

Xích Bích

Đông phong bất dữ Chu lang tiện
Đổng Tước thâm xuân tỏa nhị Kiều

Tôi chợt nhớ hai câu thơ này của Đỗ Mục khi xem bộ phim Xích Bích của đạo điễn Ngô Vũ Sâm. Bài thơ của Đỗ Mục được viết cách trận chiến Xích Bích lừng danh trong lịch sử mấy trăm năm. Một khoảng thời gian khá gần nếu so với La Quán Trung và so với Ngô Vũ Sâm ngày nay. Nhưng nghệ thuật không phải là chép sử và tác giả không phải là tên hầu của sử quan. Do đó khoảng cách thời gian hay tính xác thực lịch sử không phải là yếu tố quan trọng mang tính quyết định thẩm mỹ. Xích Bích là một phim mang tính sử thi. Nhưng một bộ phim như thế nào thì được gọi là mang tính sử thi? Bakhtin trong báo cáo Sử thi và Tiểu thuyết
của ông đã chỉ ra ba đặc điểm cốt lõi của sử thi: đối tượng của sử thi là thời gian quá khứ tuyệt đối, nguồn gốc của sử thi là truyền thuyết và thế giới sử thi cách biệt hoàn toàn khỏi hiện tại. Tất nhiên phim không phải là sử thi nên nó không nhất thiết phải tuân thủ chặt chẽ ba đặc điểm cốt lõi của Bakhtin. Nhưng có một điểm cần phải phân biệt giữa một bộ phim lịch sử và một bộ phim mang tính sử thi. Lịch sử cũng có thể coi là một truyền thuyết theo nghĩa đó là những câu chuyện được thừa nhận và lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Có những câu chuyện lịch sử mang tính sử thi, nhưng cũng có những câu chuyện lịch sử không mang tính sử thi. Đặc điểm nền tảng hiển nhiên mà Bakhtin không đề cập tới đó là nhân vật của sử thi là anh hùng. Hiển nhiên khi nói đến sử thi là nói đến anh hùng nên Bakhtin không cần thiết phải nói đến. Nhưng anh hùng là đặc điểm để phân biệt một bộ phim lịch sử và một bộ phim mang tính sử thi. Một bộ phim mang tính sử thi không thể không là một bản hùng ca. Thời gian của Xích Bích là quá khứ tuyệt đối. Quá khứ tuyệt đối không phải chỉ về một khoảng thời gian xác định như mấy trăm năm hay hàng nghìn năm, mà là chỉ câu chuyện đã xảy ra hoàn toàn cách biệt với hiện tại, chuyện đó như xảy ra ở một thế giới khác mà hiện tại không thể nào chạm tới, không thể nào can dự, không thể nào thay đổi, đánh giá hay xét lại. Thế giới quá khứ tuyệt đối đó tự bản thân nó khép kín và hoàn thiện, tất cả mọi thứ đã có sẵn trong đấy, phát triển và kết thúc ở trong đấy. Nó không cần một sự tiếp nối, thay đổi, can thiệp nào. Thế giới của sử thi không chấp nhận bất cứ một quan điểm, đánh giá, phân tích cá nhân nào. Nó không chấp nhận các trải nghiệm cá nhân. Tự bản thân nó là truyền thuyết, là tự hoàn thiện, là hiển nhiên, tự xác định, tự đánh giá. Nguồn gốc những câu chuyện trong Xích Bích là truyền thuyết. Ngô Vũ Sâm đã tận dụng tối đa những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, những điển tích, điển cố để xây dựng bộ phim Xích Bích. Câu chuyện về ước mơ của Tào Tháo có nàng Kiều trong đài Đổng Tước, có phải là sự thật lịch sử hay không - không quan trọng. Điều quan trọng ở đây là câu chuyện này được lưu truyền trong dân gian bất kể thành công và ảnh hưởng của La Quán Trung hay của lịch sử đến đâu. Ước mơ của Tào Tháo - nguyên nhân của chiến tranh mang âm hưởng như một bản Iliad trong văn hóa phương Đông: giang sơn - anh hùng - mỹ nhân. Một motif mang tính cổ điển, nhưng tự bản thân nó tự xác định, tự phát triển, hoàn thiện và kết thúc. Nó tạo ra một thế giới sử thi, một thế giới của quá khứ tuyệt đối, tất cả mọi thứ đã có sẵn, tự phát triển, khép kín, biệt lập và toàn vẹn. Những đặc điểm đấy cho thấy Xích Bích là một bản sử thi điện ảnh. Xích Bích không phải mà một bộ phim để tiếp cận lịch sử, để đánh giá tính chính xác lịch sử trong phim, tính logic hay phi logic của các sự kiện trong phim, cũng như không phải để áp những quan điểm, đánh giá cá nhân vào các nhân vật của bộ phim, bởi vì thế giới của nó là sử thi. Đây là điểm cốt lõi để thưởng thức bộ phim.

Xích Bích mở đầu bằng một buổi bình minh thanh lặng, một triều ca yên ắng đến rợn người. Một tiếng chim hót. Thanh âm trước chiến tranh, một dấu hiệu thanh bình, nhưng lại cô độc như một tiếng hạc lẻ loi trên biển cả bình lặng trước giông tố. Một người xuất hiện. Một màn tử khí bức bối phá vỡ khung cảnh thanh bình kỳ lạ đó. Ẩn dụ mở màn như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt bộ phim. Khoảnh khắc yên lặng của chiến tranh là âm nhạc, là thanh bình, như trường đoạn Chu Du nghe tiếng sáo mục đồng hay cảnh yên bình giữa Chu Du và Tiểu Kiều. Chữ An mà Tiểu Kiều viết chính là người phụ nữ dưới mái nhà. Cái yên ả che lấp cái khẩn trương, ngột ngạt của một cuộc chiến đang cận kề. Nhưng nếu như giả sử chiến tranh không xảy ra, những cảnh thanh bình đó lại quá đỗi bình thường, thường nhật. Đây chính là thủ pháp ngẫu đối để bật lên những khốc liệt của cuộc chiến đang tới. Khi chiến tranh tới, cái âm nhạc đấy, cái thanh bình dưới mái nhà đấy sẽ vĩnh viễn không còn nữa.

Xích Bích được dựng với thủ pháp tự sự theo lối kịch phương Đông. Các nhân vật lần lượt xuất hiện và "kể" về mình. "Kể" ở đây không phải bằng lời nói, mà là bằng hình ảnh hành động. Một Tào Tháo, một Triệu Tử Long, một Trương Phi, một Quan Công ... cứ lần lượt xuất hiện và giới thiệu mình. Những hình ảnh giới thiệu mang tính chấm phá nhưng lại rất đặc trưng và tiêu biểu. Hình ảnh Tào Tháo xuất hiện ở buổi chầu sáng khiến cho con chim bặt hót cho thấy tính hiếp đáp và chuyên quyền của nhân vật này. Hay như một Quan Công cướp ngựa, giật lại cờ và không giết Tào Tháo cũng là nét chấm phá kể về nhân vật này. Quá trình xuất hiện và giới thiệu như vậy được đẩy theo sự phát triển của nội dung tự sự. Xích Bích cũng tận dụng các điển tích, điển cố trong phim như tài thẩm âm của Chu Du hay như điển tích giật giải mũ được thể hiện qua câu chuyện cho binh sĩ chạy qua vũng bùn. Dụng điển là một đặc điểm của bộ phim. Xích Bích là một bộ phim mà khi xem chúng ta sẽ thưởng thức như thưởng thức một thể loại điện ảnh với thi pháp của nó.

(updated 28/8/2008)

Tuesday, August 26, 2008

Lá cờ Phúc Kiến

Biến cố ở Phúc Kiến (福建事變, Phúc Kiến sự biến) hay còn gọi la` "Mân biến" (閩變) là một biến cố quân sự trong quân đội của Tưởng Giới Thạch (蔣介石) tại Phúc Kiến năm 1933 [1,tr. 357],[2,t.39,tr.234],[3,q.3, ch.23],[4]. Kết quả của biến cố này là sự ra đời của chính phủ Cách mạng Nhân dân và nước Cộng hoà Trung Hoa (Trung Hoa Cộng hoà quốc, 中華共和國). Chính phủ nước Cộng hoà Trung Hoa sẽ chẳng có gì đặc biệt đối với người Việt Nam nếu không có câu chuyện lá cờ của chính phủ này. Một nguồn thông tin trên internet cho rằng lá cờ của chính phủ Trung Hoa Cộng hoà này là lá cờ đỏ sao vàng giống như lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay nước Việt Nam ngày nay. Nhưng sự thực có phải như vậy?

Trước tiên chúng ta điểm qua các sự kiện chính của biến cố này. Sau cố gắng bảo vệ Thượng Hải khỏi quân Nhật, lộ quân 19 của Tưởng Giới Thạch chuyển về Phúc Kiến. Ngày 1 tháng 6 năm 1933, hai ngày sau "Hiệp định Đường cô" (塘沽協定, Đường cô hiệp định), Tưởng Quang Nãi (蔣光鼐), Thái Đình Khải (蔡廷鍇) tại Phúc châu phát thông điện phản đối Tưởng Giới Thạch thoả hiệp với Nhật. Lộ quân 19 từ đây chịu ảnh hưởng chủ trương kháng Nhật của Đảng Cộng sản Trung quốc. Ngày 26 tháng 10 năm 1933, Lộ quân 19 phái đại biểu tới Giang tây cùng với hồng quân công nông Trung quốc bàn bạc và thoả thuận Hiệp định sơ bộ phản Nhật phản Tưởng (反日反蔣的初步協定, Phản Nhật phản Tưởng đích sơ bộ hiệp định). Ngày 20 tháng 11 năm 1933, Đại hội đại biểu lâm thời nhân dân Trung quốc họp tại Phúc châu. Đại hội thông qua quyết định thành lập Chính phủ Cách mạng Nhân dân (人民革命政府, Nhân dân Cách mạng Chính phủ) và ra Tuyên ngôn quyền lợi nhân dân (人民權利宣言, Nhân dân quyền lợi tuyên ngôn). Ngày 21 tháng11, Thái Đình Khải tuyên bố ly khai Quốc dân Đảng và thành lập Nhân dân Đảng. Ngày 22 tháng 11 năm 1933, Chính phủ Cách mạng Nhân dân nước Cộng hoà Trung Hoa tuyên cáo chính thức thành lập với Lý Tế Thâm [5] làm chủ tịch. Hạ tuần tháng 12 năm 1933 Tưởng Giới Thạch tấn công khu Tô Giang, đến trung tuần tháng 1 năm 1934 chiếm toàn bộ Phúc châu. Chính phủ Cách mạng Nhân dân nhập vào Lộ quân 19 rút lui về Chương châu và Tuyền châu. Ngày 21 tháng 1 năm 1934 Tuyền châu và Chương châu thất thủ. Mân biến đến đây hoàn toàn thất bại. Như vậy Trung hoa Cộng hoà quốc tồn tại trong vòng 2 tháng.

Một trong những tuyên bố của Chính phủ Phúc Kiến ngày 22 tháng 11 là từ bỏ lá cờ "Thanh thiên bạch nhật" của chính phủ Tưởng Giới Thạch và dựng một quốc kỳ mới. Quốc kỳ mới được miêu tả là: nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu xanh lam, ở giữa là ngôi sao năm cánh màu vàng (nguyên văn: 以上紅下藍中崁五角黃星旗為國旗, dĩ thượng hồng hạ lam trung khảm ngũ giác hoàng tinh kỳ vi quốc kỳ) [1, tr. 357], [3, q. 3, ch. 23],[4]. Như vậy lá cờ của Chính phủ Phúc Kiến là lá cở nửa đỏ nửa xanh có sao vàng năm cánh ở giữa. Lá cờ này giống như lá cờ của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nguồn thông tin trên mạng internet về lá cờ đỏ sao vàng của Chính phủ Phúc Kiến hoàn toàn sai sự thật. Người viết bài này không tìm được tài liệu nói về ý nghĩa của lá cờ hai màu này, nhưng căn cứ vào khẩu hiệu "Phản Tưởng kháng Nhật" và chính thể tập hợp công, nông, thương, học và binh của Chính phủ Phúc Kiến thì có thể suy đoán hai màu thể hiện Cách mạng và Giải phóng (phản Tưởng là Cách mạng, kháng Nhật là giải phóng), còn sao vàng năm cánh tượng trưng cho năm giới nhân dân.


Tài liệu tham khảo:
[1]20世紀中國全記錄 (1900A.D.-1990A.D.). 戴月芳主編. 台北市,錦繡,民81.
[2]中國大百科全書, 梅益總編輯, 中國歷史. 台北市, 錦繡, 民82.
[3]劉鳳舞,民國春秋.
Bản điện tử tại http://www.millionbook.net/lsxs/l/liufengwu/mgcq/index.html
[4]福州曆史大事 http://www.chinacsw.com/cszx/fuzhou/lishi1.htm
[5] Lý Tế Thâm (李濟深) còn có tên là Lý Tế Sâm (李濟琛) , nguyên tên thật là Lý Cẩm Giang (李錦江), tự là Nhậm Triều (任潮) sinh năm 1885 mất năm 1959 [2,t.40,tr.555].

Saturday, August 23, 2008

Solzhenitsyn và nghệ thuật

Photobucket

"Mình thật chưa bao giờ ngờ rằng Solzhenitsyn lại là một kẻ kinh tởm, thâm độc, đố kỵ và không thể hiểu nổi", Tarkovsky đã viết dòng chữ cay đắng này trong nhật ký của ông. Một điều ít ai có thể ngờ được, Solzhenitsyn trong con mắt của trí thức Nga lại thảm hại và đáng khinh đến như vậy. Một hệ thống tuyên truyền hết cỡ, ra sức ca ngợi Solzhenitsyn, phong thánh và chụp những vòng hào quang quanh ông. Nhưng liệu có một ai rõ ràng quan điểm về nghệ thuật của Solzhenitsyn. Tại sao Tarkovsky lại nhận xét về Solzhenitsyn như vậy? Không phải vì Solzhenitsyn phê bình bộ phim Andrey Rublev của Tarkovsky. Mà bởi vì chính qua bài viết về bộ phim Andrey Rublev quan điểm về nghệ thuật của Solzhenitsyn mới bộc lộ tất cả những đặc điểm mà người ta không thể ngờ tới ở một con người như vậy. Bộ mặt của Solzhenitsyn bỗng chốc bị lột trần ra một cách trần trụi qua chính bài viết của ông.

Năm 1983 Solzhenitsyn viết một bài báo phê phán bộ phim Andrey Rublev của Tarkovsky. Solzhenitsyn cho rằng: "Tiếp cận lịch sử - là quyền và cũng là trách nhiệm của chúng ta, và đó cũng là sự khẳng định của ký ức cứu rỗi của chúng ta. Nhưng liệu có được phép không khi tiếp cận với lịch sử không phải với mục đích nghiên cứu đặc biệt thời kỳ đó, mà để tìm kiếm sự tương tự, chìa khóa, cho những củng cố mong đợi về suy tư của mình, cho những mục đích của mình hôm nay? Cần phải nghĩ rằng: không không được phép. Nhưng với điều kiện: tiếp cận với những tài liệu lịch sử như là với những thứ thiêng liêng, không được giẫm nát nó, không được bóp méo tinh thần của nó (thậm chí cho dù nó trái ngược, khó chịu với chúng ta), cả kích cỡ lẫn cấu trúc nội tại của nó." Theo quan điểm của Solzhenitsyn, nghệ thuật không có quyền sáng tạo trên những sự kiện lịch sử, bởi vì những sự kiện đó là thiêng liêng, là không được phép xâm hại. Nghệ thuật trở thành chép sử. Các nhà sáng tạo nghệ thuật trở thành những tên hầu của sử quan.

Tuesday, August 19, 2008

Về hai chữ Tốn Phong

Nhân trên mạng đang ồn ào chuyện liên quan đến tập thơ Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương, tôi có Google tìm tập thơ này. Wikipedia tiếng Trung có một mục cung cấp nội dung Lưu hương ký, nhưng không đề nguồn, thành ra bản này không rõ chính xác đến độ nào. Tôi chú ý đến hai chữ Tốn Phong, tên người viết bài tựa cho tập Lưu hương ký và cũng là người có thơ trao đổi với Hồ Xuân Hương. Theo Wikipedia kể trên, Tốn Phong chữ Hán là 巽風 (tốn là quẻ tốn, phong là gió). Thi viện còn chú thích rằng theo Hoàng Xuân Hãn, Nam Phong (gió Nam) cùng gọi là Tốn Phong. Không rõ Thi viện lấy chú thích này từ đâu. Nhưng nếu chú thích này đúng thì Hoàng Xuân Hãn đã hiểu chữ Phong trong Tốn Phong là gió. Blog của Thiền Phong cung cấp bản chụp bài tựa tập thơ Lưu hương ký trong Du Hương Tích động ký. Theo bản chụp này thì Tốn Phong viết là 巽峰 với chữ phong là ngọn núi. Tôi không thể nghĩ rằng Hoàng Xuân Hãn đã đọc nhầm chữ Phong, nhưng cách giải thích của ông về hai chữ Tốn Phong (nếu quả thật đúng là của ông) thì chỉ có thể nghĩ rằng có thể là ông chưa đọc bản chữ Hán bao giờ. Điều này cũng rất lạ với một người làm nghiên cứu, tại sao lại có thể đoán mò tên người mà mình đang nghiên cứu trong khi không biết tên được viết thế nào, nghĩa chữ ra làm sao. Ngoài ra chữ Lưu trong Lưu hương ký được viết là bộ ngọc với chữ lưu 留.


Thursday, August 14, 2008

Thơ tân hình thức

Cũng không biết tại sao tôi nhận được tập thơ Bướm sáu cánh, một tập thơ tân hình thức. Tôi mới chỉ đọc lướt qua tập thơ này, nhưng ở đây tôi muốn nói về thơ tân hình thức, hình như đang được cổ xúy trên mạng.

Tôi nghĩ có thể có nhiều người lầm tưởng về thơ và về tân hình thức. Chữ "lầm tưởng" này phải được hiểu là theo cách hiểu của tôi. Có thể cách hiểu của tôi lại là một lầm tưởng đối với người khác. Hình thức viết thơ, kiểu như thơ cổ điển hay thơ hiện đại lâu nay ta vẫn thấy, mỗi câu thơ chiếm một dòng hay một vài chữ trong một câu thơ chiếm một dòng. Khi đọc đến chỗ xuống dòng, thông thường ta phải nghỉ hơi. Như vậy có thể thấy xuống dòng - nghỉ hơi này là một cách tạo nhịp cho bài thơ, bên cạnh các hình thức tạo nhịp khác của một bài thơ. Từ đặc điểm này dẫn đến quan niệm cho rằng bài thơ được trình bày theo kiểu mỗi câu thơ hay một số chữ trong một câu thơ chiếm một dòng và xuống dòng nghỉ hơi là một hình thức thơ cổ điển. Từ đấy dẫn đến cách viết thơ mà xuống dòng không phải là tạo nhịp. Câu thơ hay nhịp thơ có thể kết thúc ở giữa dòng hay ở bất kỳ chỗ nào trong dòng thơ. Cách viết thơ kiểu này gọi là tân hình thức.

Thực ra cách viết thơ xuống dòng là cách viết thơ hiện đại hay là cách viết thơ của phương Tây. Phương Đông không có truyền thống viết thơ xuống dòng như vậy. Phương Đông viết thơ liền tù tì, không có chấm phảy hay xuống dòng gì hết. Phương Đông viết thơ đến hết dòng, hết giấy mới buộc phải viết sang dòng khác. Tôi lấy ví dụ một bài thơ của Trần Thánh Tông trong tập Nam ông mộng lục mà gần đây tôi có đọc

Photobucket
Đây là bài thơ Hành Thiên trường hành cung của Trần Thánh Tông, quen thuộc với nhiều người. Căn cứ theo bản viết trên đây tôi sẽ phải viết bài thơ này với những chỗ xuống dòng (thực chất là hết dòng, không còn chỗ để viết tiếp, ký hiệu bằng /) như sau:

cảnh thanh u vật diệc thanh u thập nhất tiên châu thử /
nhất châu bách bộ sinh ca cầm bách thiệt thiên hàng nô bộc quất thiên đầu nguyệt vô sự chiếu /
nhân vô sự thủy hữu thu hàm thiên hữu thu tứ hải dĩ thanh trần dĩ tịnh kim niên du /
thắng tích niên du

Nếu theo tiêu chí của tân hình thức thì đây là bài thơ tân hình thức thứ thiệt. Nhưng đó lại là một bài thất ngôn bát cú điển hình. Bất cứ bài thơ nào người xưa đều viết như trên. Hình thức xuống dòng không phải là đặc điểm của thơ phương Đông. Khi viết thơ người ta có thể xuống dòng ở bất kỳ chỗ nào và việc xuống dòng này không làm ảnh hưởng đến nhịp điệu của bài thơ. Ví dụ khác là bài thơ Tuyệt cú của Đỗ Phủ có thể được viết như sau:

Photobucket

Căn cứ theo cách viết trên bài thơ của Đỗ Phủ sẽ được phiên âm như sau:

lưỡng cá hoàng ly /
minh thúy liễu nhất /
hàng bạch lộ thướng /
thanh thiên song hàm /
tây lĩnh thiên thu /
tuyết môn bạc đông /
ngô vạn lý thuyền

Có thể nghĩ đây là một bài thơ tân hình thức được không?

Đặc điểm đọc thơ của phương Đông không căn cứ vào việc xuống dòng. Phương Đông đọc thơ căn cứ vào nhịp điệu của bài thơ. Khi nào nhịp hết, chỗ đấy là lúc nghỉ hơi. Bất kể bài thơ được trình bày như thế nào, nhịp điệu của bài thơ mới là yếu tố quan trọng xác định cách đọc thơ, không phải cách trình bày hay cách viết bài thơ. Kết thúc một câu thơ trong cách trình bày cổ điển có thể nằm ở bất cứ vị trí nào trong một dòng viết. Điểm duy nhất để xác định ở đâu câu thơ kết thúc là nhịp điệu và ngữ nghĩa của bài thơ. Ví dụ khác là hai câu thơ lục bát của Thế Lữ:

Trời cao xanh ngắt . Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

Tuy dấu chấm đặt ở giữa câu và "ô kìa" phải liền câu với câu 8 ở dưới, nhưng bất kể ai khi đọc đến chữ "ô kìa" đều phải nghỉ hơi. Nghỉ hơi ở đây không phải vì Thế Lữ đã viết xuống dòng, mà vì nhịp điệu của thơ lục bát bắt buộc phải làm như vậy. Giả sử tôi viết hai câu thơ trên như cách viết thơ cổ điển:

trời cao xanh ngắt ô kìa hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

thì cách đọc vẫn như cũ. Đến "ô kìa" vẫn phải nghỉ hơi. Như vậy có thể thấy cái gọi là tân hình thức thực ra chỉ là một hình thức cổ điển mà phương Đông đã dùng từ xưa.

Friday, August 8, 2008

Chung một giấc mơ

Tôi cứ có cảm giác khẩu hiệu Olympic năm nay ở Bắc Kinh thế nào đấy. Không biết có phải là cả nghĩ không? Tiếng Hán đọc thế này: Đồng nhất cá thế giới - Đồng nhất cá mộng tưởng. Có thể dịch ra tiếng Việt là: Chung một thế giới - Chung một giấc mơ. Tiếng Anh đơn giản hơn: One world - One dream, một thế giới - một giấc mơ. Tiếng Anh không có chữ chung. Chung một thế giới không có điều chi bất ổn. Nhưng chung một giấc mơ, chung một mộng tưởng, chung một mơ tưởng tôi cảm thấy rờn rợn ghê ghê thế nào đấy. Kundera trong tiểu thuyết Ignorance của ông có kể về một giấc mơ chung của những người di tản. Giấc mơ ngồi lên máy bay và hạ cánh xuống phi trường đúng nơi đã ra đi. Dưới chân cầu thang máy bay là cảnh sát chờ sẵn. Giấc mơ này nghê rợn không phải bởi vì có cảnh sát trong đấy, mà bởi vì trải nghiệm của mỗi cá nhân khác nhau, nhưng đêm đêm cả ngàn người cùng mơ một giấc mơ. Một giấc mơ tập thể, một giấc mơ nhấn chìm tất cả những đa dạng của cá thế trong một thế giới. Nơi đấy không còn có cá nhân, không còn có con người.

Tôi nghĩ về hai chữ "đồng mộng". Hai chữ này có xuất xứ từ Kinh Thi, bài Kê minh: Cam dữ tử đồng mộng. Ngọt ngào ngon giấc cùng chàng trong một giấc mộng. Đây là tình yêu, tình vợ chồng thắm thiết. "Đồng mộng" trở thành một điển tích, một ẩn dụ cho tình yêu, tình vợ chồng say đắm. Nhưng ở giấc mơ đó chỉ có hai người. Ba người đã là hỏng. Cả triệu người, cả tỉ người cùng một giấc mơ tôi thấy nó khủng khiếp quá.

Nền văn hóa Trung Hoa có một giấc mơ: giấc mơ thống nhất thiên hạ. Đỉnh cao tuyệt đối của đạo đức con người là bình thiên hạ. Chung một thế giới chỉ là cách phát biểu khác của thống nhất thiên hạ. Một thế giới tề tựu quanh Hoa Hạ, mảnh đất ở giữa thế giới, cái rốn của vũ trụ chẳng phải là giấc mơ ngàn đời của các Hoàng Đế Trung Hoa, chẳng phải là nỗi niềm khát khao đang chảy trong huyết quản của mỗi người Trung Quốc hay sao?

Xem lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh tôi không khỏi không nhớ tới lời của Lỗ Tấn:
Cái gọi là văn minh Trung Quốc kỳ thực chỉ là bữa tiệc thịt người bày ra cho bọn giàu sang hưởng thụ, mà cái gọi là nước Trung Quốc kỳ thực chỉ là cái bếp để sửa soạn bữa tiệc thịt người đó. Không biết mà tán dương thì còn tha thứ được, nhưng biết mà còn tán dương, thì cả thế hệ này sẽ bị người đời sau nguyền rủa mãi mãi!

Lỗ Tấn cứ gào thét, còn nước Trung Hoa thì vẫn cứ say trong một giấc mơ: giấc mơ về một bữa tiệc thịt người.

Thursday, August 7, 2008

Tarkovsky nhận xét về Solzhenitsyn

Năm 1984 Solzhenitsyn có viết một bài báo về bộ phim Andrey Rublev của Tarkovsky. Nhật ký Martyrolog của Tarkovsky ghi lại một vài suy nghĩ của Tarkovsky quanh vấn đề này. Có thể nghĩ rằng đây là suy nghĩ chân thật của Tarkovsky vì những suy nghĩ này nằm trong nhật ký của ông. Trích dịch từ nhật ký của Tarkovsky:

30 tháng 5: [...] Solzhenitsyn viết một bài báo dài về Rublov đăng trên tạp chí Vestnik của ông. Tại sao lại vào đúng thời điểm này. Đúng vào lúc này, khi mình đang trong lúc khó khăn như thế. Vladimovs gửi cho bài báo. Họ muốn có phản ứng. Chúng ta sẽ thấy. Mình cần phải đọc bài báo trước đã.

16 tháng 6: [...] Zhora Vladimov đang chuẩn bị hai bài báo về mình và Rublov. Tranh luận với Solzhenitsyn. Mình chưa bao giờ ngờ rằng Solzhenitsyn lại trở nên một con người lố lăng, thâm độc, đố kỵ, và đặc biệt không thể hiểu nổi đến thế.

3 tháng 7: [...] Baumgartner gọi điện từ Frankfurt, ông rất thích những kịch bản mà ông đã dịch: HoffmannianaLight Wind. Ông muốn đàm phán với truyền hình Đức. Ông đã đọc bài báo rất yếu và dở về Rublov của Solzhenitsyn. Mình thực sự lo cho Olga có thể gặp rắc rối lớn khi cuộc họp báo của chúng ta xong.

Monday, August 4, 2008

Solzhenitsyn: Sống không theo dối trá

Đọc tiêu đề bài viết của Solzhenitsyn "Không sống bằng dối trá" tôi cảm thấy rất không ổn. Tôi chợt nhớ tới một câu trong Kinh Thánh: ... không sống bằng bánh mì ... mà bằng .... Tôi hình dung tiêu đề bài viết của Solzhenitsyn phải có thêm vế tiếp theo: không sống bằng dối trá mà bằng ... Trong 10 điều răn của Chúa, không có điều nào cấm nói dối, chỉ cấm làm chứng dối. "Không sống bằng dối trá" đứng lẻ loi một mình trong nền văn hóa Ki Tô rất chông chênh, không có điểm tựa vững chắc. Nếu dựa theo Kinh Thánh thì có thể viết lại cái tiêu đề này thành: Man shall not live by lies alone, but by... Con người không sống bằng dối trá trơ trọi mà bằng.... Mà bằng gì thì thật không rõ, tuy lại cực kỳ quan trọng. Dù có theo bản tiếng Anh dịch lại thành "Sống không bằng dối trá" cũng không làm thay đổi cái nền tảng văn hóa Ki Tô trong đấy.

Tiêu đề trong bản tiếng Nga là "Жить не по лжи" và có thể dịch thành "Sống không theo dối trá". Không theo dối trá có thể không mâu thuẫn với văn hóa Ki Tô khi nói dối không phải là một điều cấm. Không theo không phải là không bằng. Sống không theo dối trá sẽ không còn gợi tới câu nói trong Kinh Thánh, và không cần vế tiếp theo, bởi vì nếu sống không bằng thứ gì đấy sẽ có câu hỏi thế thì sống bằng gì. Có lẽ sống không theo dối trá khởi nguyên từ Tolstoy, có cội nguồn từ văn hóa Nga. Tolstoy viết: "... Trả lời câu hỏi làm gì thế nào khi tất cả những thứ tôi làm, cả cuộc đời của tôi tạo dựng trên dối trá, và tôi cố gắng mạo nhận sự dối trá này là sự thật trước mọi người và trước chính bản thân tôi ?" Sống không theo dối trá là sự khước từ của Solzhenitsyn, một lời kêu gọi nhưng vẫn là truyền thống Tolstoy. Vấn đề dối trá là một vấn đề rất cuốn hút và không dễ minh định bản chất của nó.

Sunday, August 3, 2008

Điểm phim Tarkovsky trên The New Yorker

Vì lý do nào đấy mà chính bản thân tôi cũng không rõ tôi cho rằng giới phê bình điện ảnh Mỹ chẳng bao giờ cảm nhận được phim của Tarkovsky. Mỹ cảm của Tarkovsky là một thứ gì đó xa lạ với văn hóa Mỹ. Nhưng có lẽ tôi đã không đúng. Trên The New Yorkerbài điểm phim Hồ quang Nga của Anthony Lane về bộ phim Tấm gương của Tarkovsky. Bài điểm phim rất ngắn, chỉ vài nhận xét nhỏ về phim của Tarkovsky, nhưng có những nhận xét sắc đáng: "Với những đoạn phim xen kẽ giữa tuổi thơ và trưởng thành, những thay đổi trong bố cục và màu sắc, và những bộc phát đối nghịch căn bản giữa nước và lửa, kết quả thực sự sẽ phải là những điều không thể thấu hiểu, cũng giống như sự kiện vai người mẹ và người vợ của người kể chuyện cùng do một diễn viên đóng (Margarita Terekhova) dường như cùng một lúc tạo ra sự khó hiểu và có lý hoàn toàn. Những chi tiết nhỏ nhất (chú bé nói lắp, nếp gấp trang sách bị lật) bám chặt vào như cỏ may, và chúng ta chỉ còn kinh ngạc liệu có đạo diễn nào đã đào sâu vào nỗi buồn sâu thẳm về quá khứ một cách giản dị và chân thật đến như vậy".