Thursday, May 31, 2007

Xem: Tượng La Hầu La Đa




Người ta bảo rằng, bức tượng này thể hiện một con người khát khao vươn tới một điều gì đó nhưng chưa đạt được trong khi thời gian không còn bao và điều đó còn quá xa. Đó là bi kịch của một con người. Đó là trời chiều, đường xa, là nỗi mỏi mệt, là phút giây chạnh lòng, thoáng hoài nghi, thoáng buông xuôi, chút gắng gượng, chút kiên định.

Tư Mã Thiên có nói: "Núi cao ta trông, đường rộng ta đi. Tuy chưa đến đích nhưng lòng hướng về." Cái đích mà Thái sử công hướng đến là cái đích gì? Là cung hình chăng? Là Sử ký chăng?

Ngũ Tử Tư có nói: "Tôi trời chiều đường xa, gặp việc trái đạo lý vẫn cứ làm." Chung cục lại "móc mắt ta treo lên cửa Đông."

Kết cục của La Hầu La Đa sẽ thế nào? Không phải theo kinh sách. Mà theo tượng.

Sunday, May 27, 2007

Đọc sách: Đo thế giới của Kehlmann

Tên sách: Đo thế giới
Tác giả: Daniel Kehlmann
Dịch giả: Lê Quang
Nhà xuất bản: Nhã Nam và Văn học (2007)

Người ta gọi cuốn tiểu thuyết này là một đại tự sự (grand narrative) (chính xác hơn thì không phải "người ta", mà là "một số người Việt"). Tôi không hiểu đại tự sự là cái gì. Tôi gọi cuốn tiểu thuyết này là liệt truyện song chiếu. Liệt truyện là ghi chép lại các câu chuyện về các nhân vật hay sự tích. Tuy ghi chép gọi là ký, nhưng liệt truyện thực chất là kể chuyện, là narrative. Truyền thống liệt truyện khởi đầu với Tư Mã Thiên là để ghi chép lại sử, nhưng liệt truyện ở đây không còn giữ nguyên tính sử, không hư cấu như ở Tư Mã Thiên. Ở đây liệt truyện đã hư cấu hóa những chi tiết có thực hay bán thực như giai thoại, và có thể có cả những chi tiết hoàn toàn hư cấu. Có thể nói ở đây hư cấu và không hư cấu hòa quyện vào nhau, không thể tách ra được, hay nói cách khác là "thực giả bất phân minh". Tư Mã Thiên cũng có những liệt truyện viết về hai con người như Liêm Pha và Lạn Tương Như liệt truyện, thống nhất trong một chủ đề, trong một câu chuyện, và tương hỗ với nhau. Tôi gọi những liệt truyện kiểu này là song hành. Kiểu liệt truyện này cũng khác với kiểu liệt truyện tuy cùng chung một chủ đề, nhưng chỉ là một tập hợp các truyện về các nhân vật, không thống nhất nội tại với nhau, ví dụ như Thích khách liệt truyện chẳng hạn. Đo thế giới là một liệt truyện kiểu khác. Nó không phải là một song hành, mà là một song chiếu. Song chiếu là cặp đôi hai cuộc đời, thống nhất trong một chủ đề, nhưng tương phản với nhau, đối chiếu với nhau. Sự thống nhất và tương phản tạo ra những tình thế nhân sinh thống nhất nội tại để đối chiếu phác lộ các cá tính tương phản mà lại thống nhất.

Đo thế giới, như vậy, là một liệt truyện song chiếu về Gauss và Humboldt. Gauss quá nổi tiếng và chắc chắn đối với nhiều người Việt "ông hoàng của toán học" không phải là một cái tên xa lạ, thậm chí một số giai thoại về Gauss như cộng các số tự nhiên từ 1 đến 100 cũng được biết đến rộng rãi. Humboldt là một cái tên xa lạ hơn, tuy không phải là quá xa lạ. Đối với người Đức Humboldt là một nhà bác học nổi tiếng, nhưng đối với người Việt, tất nhiên, ông cũng là một nhà bác học nổi tiếng, nhưng nổi tiếng về cái gì và vì sao nổi tiếng thì hẳn không nhiều người biết.

Lối kể chuyện trong Đo thế giới có pha hài hước nhẹ nhàng. Cái hài hước ở đây thể hiện ở tính nước đôi hai mặt của các tình thế nhân sinh. Chẳng hạn trong đêm động phòng, Gauss khi đã ở trên người vị hôn thê, chợt nảy sinh ra ý tưởng về dung sai, vội nhảy xuống ra bàn làm việc viết lại công thức, rồi mới quay trở lại giường hành sự.

Đo thế giới không chỉ viết về hai nhà khoa học đơn độc. Qua đó còn thấy cả một giới khoa học của nước Đức trong kỷ nguyên Ánh Sáng với những tính cách và văn hóa đặc trưng của nước Đức. Chẳng hạn cặp đôi trên con đường thám hiểm, Humboldt và Bonpland, không chỉ là hai cá tính đơn lẻ, mà còn là một song chiếu giữa tính cách và văn hóa Đức với tính cách và văn hóa Pháp. Cuốn sách, như vậy, đã mở ra trước người đọc con người và văn hóa Đức, vừa lạ lùng, vừa lôi cuốn, lại không thiếu phần hài hước.

Thursday, May 24, 2007

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo

Chuyện này đã có người từng đề cập rồi. Gần đây nhân vở kịch về Nguyễn Trãi lại thấy nhiều người nói "lòng Ức Trai sáng như sao Khuê". Hóa ra thiên hạ nhiều người chẳng biết gì. Không biết trong vở kịch ồn ào kia có "lòng Ức Trai sáng như sao Khuê" không?

Nguyên văn câu này là một câu thơ trong bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông:

Cao Đế anh hùng cái thế danh
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự
Bát bách Cơ Chu lạc thái bình

(Đức Cao Đế (Lê Thái Tổ) là bậc anh hùng đệ nhất thiên hạ
Đức Văn Hoàng (Lê Thái Tông) trí dũng kế thừa cơ nghiệp
Ức Trai (Nguyễn Trãi) lòng soi sáng văn chương
Vũ Mục (Lê Khôi) bụng chứa đầy binh giáp
Mười anh em họ Trịnh (con thái uý Trịnh Khả) tất thảy đều vẻ vang phú quý
Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín) đều hưởng ân vinh lớn
Cháu hiếu là Hồng Đức (Lê Thánh Tông) nay kế thừa nghiệp lớn
Vui hưởng thái bình như nhà Chu tám trăm năm)

Nhiều người cứ dịch bừa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" thành "Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê". Cái ẩu của những người này là họ vứt béng luôn chữ "tảo", không cần biết "tảo" có nghĩa gì. Cũng may là không có ngôi sao nào tên là "tảo" chứ không thì rất dễ thành "Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê, sao Tảo" mất. "Khuê tảo" là văn chương. Khuê đúng là sao Khuê, nhưng vì sao Khuê chủ việc văn học nên "khuê" còn có nghĩa là văn chương. "Tảo" là cây tảo, loại rong rêu dưới nước, vì có văn vẻ nên còn có thêm nghĩa là văn vẻ, chữ viết. "Khuê tảo" như vậy là một từ ghép đẳng lập, và có như vậy thì nó mới đối với từ "giáp binh" ở câu thơ dưới.

Tuesday, May 22, 2007

Xem kịch: Bài ca đất nước của Tào Mạt

Vở kịch này tôi đã xem hai lần: một lần hồi còn nhỏ và một lần gần đây. Đều do đoàn kịch của Tổng cục Chính trị diễn. Lần gần đây không diễn hết cả ba phần và tôi cảm thấy dường như kém hơn xưa. Không biết có phải chỉ là tưởng tượng ra thế thôi hay ký ức của thời gian đã mất bao giờ cũng đẹp hơn, quyến rũ hơn, và tao ngộ lần hai không bao giờ được như cái thưở ban đầu, không được như cái ảo ảnh của sự trở về lớn lao đầy huyễn tưởng mà Kundera đã viết :"Những từ này, lặp lại, tạo ra một sức hút tận cõi lòng sâu thẳm của Irena, cô thấy chúng được viết hoa: Sự Trở Về Lớn Lao. Cô bỏ đi những do dự của mình: cô say đắm với những hình ảnh chợt khuấy lên từ những quyển sách cô đã đọc từ lâu, từ những bộ phim, từ ký ức của chính cô, và có thể cả từ ký ức của tổ tiên cô: đứa con lưu lạc trở về nhà với mẹ già của mình; trở về mảnh đất thân thương mà số mệnh ác nghiệt đã đẩy anh ra khỏi đó; nhà cửa ruộng nương mà chúng ta mang mãi trong lòng; con đường mòn được phát hiện lại vẫn đánh dấu bằng những dấu chân quên lãng của tuổi thơ; Odysseus trông thấy hòn đảo của mình sau những năm tháng lang thang; sự trở về, sự trở về, điều kỳ diệu tuyệt vời của sự trở về."

Lúc nhỏ xem Bài ca đất nước không hiểu "nhị hoa diện" là gì. Đến khi đọc tạp văn của Lỗ Tấn mới biết. Sự thâm thúy quy ước của kinh kịch lại rất hợp với chèo đầy ước lệ. Có lẽ xem chèo là thưởng thức những quy ước và ẩn dụ. Đó là tính kịch của chèo. Bài ca đất nước khó có thể nói là được xây dựng theo quan điểm Marxist. Tinh thần nghệ thuật Marxist là tinh thần thế giới, như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản viết: "Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới." (mấy chữ cuối này giống hệt Goethe) (Cũng có những điều mỉa mai khi ngày nay có những người muốn xướng lên một nền văn chương thế giới, một tinh thần thế giới, cứ như là một cái gì đó rất mới mẻ, một phục hưng lại Goethe, một thứ rất hiện đại và đặc biệt phải quên Marx.) Bài ca đất nước ca ngợi tinh thần chống ngoại xâm, chống tham quan lại nhũng. Những phá Tống, bình Chiêm hẳn không thể nào lại là một tinh thần thế giới. Ngược lại đó chính là "tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc", một tính chất phi Marxist. Ở Bài ca đất nước cũng không có những mâu thuẫn giai cấp đối kháng, trái lại ở đó là sự đoàn kết toàn dân để xây dựng và củng cố một vương triều đầy quyền uy và vững chắc.

Tính trào phúng của Bài ca đất nước rất cao, phát huy được các ưu thế trào phúng của chèo. Tiếng cười vừa dân gian, vừa thâm sâu, mang những ước lệ và ẩn dụ cho thời hiện tại.

Tuy nhiên Bài ca đất nước cũng có những nhược điểm. Nhược điểm lớn nhất là đã đẩy các chi tiết lịch sử đi quá xa. Hoàng hậu Thượng Dương trở thành một nhân vật phản diện. Tôi cảm thấy cách xây dựng này không được hay. Có lẽ một vở kịch hiện đại phải là một vở kịch vượt qua được khuôn khổ phân chia giới tuyến chính diện/phản diện.

Sunday, May 20, 2007

Khúc ca của người Việt

















You must be a member of Yahoo! 360° to comment on this blog entry.










HIGHLIGHTED POSTS










mbed>



Tags: timhieu, amnhac



Sunday May 20, 2007 - 10:33pm (EDT)



Thursday, May 17, 2007

Nhạc: Quan san nguyệt

Get this widget | Share | Track details

Quan san nguyệt: Cầm ca theo Mai am cầm phổ, thơ Lý Bạch, do Liệu Thu Trăn cầm xướng


PS: Vừa mới học được cách post nhạc. Nhưng vẫn chưa biết làm cách nào để chuyển file từ dạng wma sang dạng mp3 để có thể post được. Mong được cao nhân chỉ giúp. Xin cảm ơn!

Comments

(3 total)















http://download.riverpast.com/download/audioconverterpro_wmf_setup.exe



http://download.riverpast.com/download/audioconverter_wmf_setup.exe



Anh có thể tải những phần mềm này về, install, sau đó thì chuyển file như người ta hướng dẫn. Đây là những bản trial, nhưng anh có thể tìm những phần mềm tương tự có crack trên mạng. Have a good time. :)


Friday May 18, 2007 - 06:05pm (ICT)

















Bác Đông A ơi, bác có thể dùng ngay ITunes cua Apple import wma sang mp3 !


Friday May 18, 2007 - 07:08pm (ICT)

















Cám ơn các bác! Tôi sẽ thử xem sao.


Friday May 18, 2007 - 09:28am (EDT)



















You must be a member of Yahoo! 360° to comment on this blog entry.










HIGHLIGHTED POSTS














Tags: amnhac



Friday May 18, 2007 - 02:25am (EDT)



Wednesday, May 16, 2007

W. Krivitsky: Tôi từng là mật vụ của Stalin

Đoạn trích sau được dịch từ một phần chương VI của cuốn sách Tôi từng là mật vụ của Stalin của W. Krivitsky, bản tiếng Nga. Đoạn trích này kể về quá trình thẩm vấn Mrachkovsky và có liên quan đến tác phẩm Bóng tối giữa ban ngày của A. Koestler như Koestler tự nhận.


Tôi từng là mật vụ của Stalin

W. Krivitsky

VI. Tại sao họ nhận tội?

[trích]

Mrachkovsky trở thành đảng viên bolshevik từ năm 1905. Anh là con của một nhà cách mạng, bị chính quyền Sa Hoàng đầy đi Sibir. Bản thân anh cũng bị cảnh sát Sa Hoàng bắt nhiều lần. Trong thời gian nội chiến, sau thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mrachkovsky thành lập ở Ural một đội tình nguyện, nổi tiếng với những chiến công đánh tan đội quân của Kolchak. Anh là một anh hùng dân tộc vĩ đại trong thời kỳ Lenin.

Tháng sáu năm 1936. Chuẩn bị cho xử án điển hình lần đầu tiên đã xong. Đã nhận được lời nhận tội của 14 người bị cầm tù. Các nhân vật chính - Zinoviev và Kamenev - đã tập xong vai của mình. Thế nhưng trong nhóm bị chỉ định tế thần này có hai người không chịu nhận tội; Mrachkovsky và bạn chiến đấu của anh Ivan Smirnov, một trong những người thành lập đảng bolshevik, chỉ huy tập đoàn quân số 5 trong thời kỳ nội chiến.

Stalin không muốn bắt đầu phiên tòa mà không có hai người này. Hàng tháng trời họ lâm vào cảnh bị thẩm vấn; họ chịu tất cả phương pháp ba giai đoạn thể xác của OGPU. Thế nhưng họ từ chối ký bản nhận tội. Thủ trưởng OGPU bất ngờ yêu cầu đồng nghiệp của tôi Slutsky tiến hành thẩm vấn Mrachkovsky và "bẻ gãy" con người mà Slutsky cảm thấy kính trọng sâu sắc .

Cả hai chúng tôi đã khóc, khi Slutsky kể cho tôi nghe về trải nghiệm của mình trong vai trò của kẻ ác nghiệt. Tôi kể lại câu chuyện của Slutsky trong mức độ tôi còn nhớ nó.

- Khi tớ bắt đầu cuộc thẩm vấn, tớ cạo râu sạch sẽ. Khi tớ kết thúc, râu ria xồm xoàng, - Slutsky kể lại.

- Cuộc thẩm vấn kéo dài 90 tiếng. Cứ hai tiếng là có điện thoại hỏi từ văn phòng của Stalin. Thư ký của Stalin hỏi: "Thế nào, anh đã bẻ gãy được hắn chưa?"

- Cậu muốn nói là mọi người không rời khỏi phòng trong suốt thời gian đấy? - tôi hỏi lại.

- Không, sau 10 tiếng đầu tiên tớ có ra khỏi phòng một chút, nhưng thế vào chỗ của tớ là thư ký của tớ. Trong suốt cuộc thẩm vấn 90 tiếng Mrachkovsky chẳng được để yên một phút nào. Cảnh vệ hộ tống anh ấy ngay cả khi đi vệ sinh.

Khi anh ấy bước vào phòng của tớ lần đầu tiên, anh đi khập khiễng, cho thấy vết thương ở chân trong thời gian nội chiến. Tớ đưa ghế cho anh. Anh ngồi xuống. Tớ bắt đầu thẩm vấn bằng những lời thế này: "Anh thấy đấy, đồng chí Mrachkovsky, tôi nhận được lệnh thẩm vấn anh". Mrachkovsky đáp lại: "Tôi chẳng có gì để nói. Nói chung tôi không muốn có bất cứ trò chuyện nào với anh. Anh và những người như anh tồi hơn cả hiến binh Sa Hoàng. Nói cho tôi biết, anh có quyền gì thẩm vấn tôi? Anh đã ở đâu trong thời gian cách mạng? Tôi sẽ chẳng nhớ được cái gì đó để lúc nào đó nghe thấy về anh trong những ngày đấu tranh cách mạng". Mrachkovsky nhận thấy hai huân chương Cờ Đỏ trên ngực Slutsky và nói tiếp:

- Những thứ kia trên mặt trận tôi chưa bao giờ thấy, thôi được huân chương, chắc hẳn, anh xoáy chúng.

Slutsky im lặng, anh để tù nhân của mình trút giận. Mrachkovky tiếp tục:

- Anh gọi tôi bằng từ "đồng chí". Chỉ mới hôm qua một người trong số các anh thẩm vấn tôi. Hắn gọi tôi là thằng đểu, đồ phản cách mạng. Thế mà tôi được sinh ra trong nhà tù Sa Hoàng. Bố mẹ tôi chết ở Sibir. Tôi vào đảng từ khi hãy còn là trẻ con.

Lúc này Mrachkovsky đứng dậy và rất nhanh phanh áo của mình để lộ ra những vết sẹo do bị thương trong những cuộc chiến đấu vì chính quyền Soviet.

- Đây là những huân chương của tôi! - Anh ấy kêu lên.

Slutsky tiếp tục im lặng. Anh yêu cầu mang trà đến và mời người tù một cốc trà và những điếu thuốc. Mrachkovsky chộp lấy cốc trà và cái gạt tàn thuốc lá, ném chúng xuống sàn và thét lên:

- Muốn mua tao chăng? Nói cho Stalin biết là tao căm thù nó. Nó là tên phản bội. Chúng dẫn tao đến Molotov, nó cũng muốn mua tao. Tao nhổ vào mặt nó.

Cuối cùng Slutsky bắt đầu nói:

- Không, đồng chí Mrachkovsky, tôi không xoáy các huân chương Cờ Đỏ này. Tôi được chúng ở trong Hồng Quân, trên mặt trận Tashken, nơi tôi chiến đấu dưới sự chỉ huy của anh. Tôi chưa bao giờ coi anh là đồ đểu, và cả ngay lúc này cũng không. Thế nhưng anh lại ở phía đối lập và đấu tranh chống lại đảng? Chắc chắn là vậy. Còn bây giờ đảng trao cho tôi nhiệm vụ thẩm vấn anh. Còn những vết thương ư, anh nhìn đây!

Và Slutsky phanh trần một phần thân mình cho thấy những vết sẹo chiến đấu.

- Chúng cũng từ cuộc nội chiến, - anh nói thêm. Mrachkovsky chăm chú lắng nghe, và sau đó nói:

- Tôi không tin anh. Chứng minh cho tôi xem đi.

Slutsky bảo mang lý lịch chính thức của mình từ kho lưu trữ của OGPU đến. Anh đọc nó cho Mrachkovsky. Sau đó anh nói:

- Tôi vào làm việc ở tòa án cách mạng sau cuộc nội chiến. Sau đó đảng cử tôi sang OGPU. Tôi chỉ thực hiện mệnh lệnh. Nếu đảng ra lệnh cho tôi chết, tôi sẽ chết.

Slutsky đã thực hiện điều này một năm rưỡi sau, khi đó người ta giải thích là anh đã tự tử.

- Không, anh đã tha hóa thành chó săn cảnh sát, thành tay sai mật thám, - Mrachkovsky nói, sau đó chầm chậm tiếp tục: - Dẫu vậy, rõ ràng, người ta vẫn chưa tẩy sạch lương tâm của anh.

Lần đầu tiên Slutsky cảm thấy rằng giữa anh và Mrachkovsky đã lóe ra một chút thông cảm. Anh bắt đầu nói về tình hình đất nước và trên thế giới, về chính quyền soviet, về hiểm họa bên ngoài và bên trong, về sự cần thiết phải cứu nguy cho đảng bằng bất cứ giá nào như một con đường duy nhất để cách mạng tiếp tục.

- Tớ nói với anh ấy, - Slutsky kể, - rằng cá nhân tớ tin rằng anh ấy, Mrachkovsky, không phải là tên phản cách mạng. Tớ lấy từ bàn các bản thú tội của các đồng chí bị cầm tù và đưa cho anh ấy bằng chứng cho thấy họ đã nã một cách hèn hạ như thế nào khi đối lập lại hệ thống soviet.

Trong suốt ba ngày, cả ngày lẫn đêm tớ và anh ấy đã trò chuyện và tranh luận với nhau. Trong suốt thời gian đó Mrachkovsky không có phút nào chợp mắt. Tớ chỉ dành ra được khoảng 3-4 tiếng để ngủ trong suốt thời gian khi chúng tớ đấu tranh với anh ấy.

Mrachkovsky kể cho Slutsky rằng mình đã hai lần bị dẫn từ nhà tù đến gặp Stalin. Lần đầu, anh bị dẫn đến điện Kreml, anh gặp Molotov ở phòng tiếp khách của Stalin. Molotov khuyên Mrachmovsky:

- Anh bây giờ sẽ gặp bác. Hãy cởi mở với bác, Sergey thân mến, đừng giấu giếm gì cả. Nếu không thì chuyện sẽ kết thúc bằng dựa cột đấy.

Stalin giữ Mrachkovsky lại gần hết cả đêm, cố gắng để đạt được từ tù nhân của mình lời từ chối tất cả các quan điểm đối lập. Stalin nói rằng đảng đầy dẫy các phần tử đe dọa sự nghiệp của chủ nghĩa bolshevik. Tất cả các lãnh đạo của đảng cần phải chứng tỏ cho đất nước thấy bằng cách thú nhận rằng chỉ có một con đường duy nhất - con đường của Stalin. Mrachmovsky không chịu và quay trở lại phòng giam.

Lần thứ hai, khi Mrachmovsky bị gọi đến điện Kreml, Stalin đưa ra lời hứa khác với anh nếu anh theo đúng đường lối Stalin.

- Nếu anh hợp tác toàn diện, - Stalin hứa, - thì tôi sẽ gửi anh đến Ural lãnh đạo ngành công nghiệp ở đó. Anh sẽ trở thành giám đốc. Anh sẽ làm những việc lớn.

Mrachmovsky một lần nữa từ chối đề nghị của Stalin. Chính lúc đấy Slutsky được giao nhiệm vụ bẻ gãy Mrachmovsky. Ngày và đêm trôi qua trong tranh luận về vấn đề là chẳng một ai khác ngoài Stalin có thể lãnh đạo đảng bolshevik. Mà Mrachkovsky kiên định tin tưởng vào hệ thống một đảng cầm quyền. Tuy vậy anh ấy đành phải thừa nhận rằng chẳng thể có các nhóm nhỏ trong đảng có thể đủ mạnh để thay đổi bộ máy của đảng từ bên trong hay hạ bệ sự lãnh đạo của Stalin. Không nghi ngờ gì, đất nước đang có những bất mãn sâu sắc, thế nhưng khắc phục nó ngoài hàng ngũ lãnh đạo của đảng đồng nghĩa với kết thúc chế độ mà Mrachkovsky vẫn còn tin tưởng.

Cả người thấm vấn lẫn người bị tù đồng ý với nhau rằng những người bolshevik cần phải phục tùng ý chí của mình, sự nghiệp của mình và tư tưởng của đảng. Họ đồng ý rằng cần phải giữ vững đảng, thậm chí ngay cả khi Stalin yêu cầu những thú nhận sai lầm vì mục đích củng cố chính quyền Soviet.

- Tớ làm cho anh ấy đến mức bắt đầu thổn thức, - Slutsky nói với tôi. - Tớ thổn thức cùng với anh ấy, khi tớ và anh ấy đi đến kết luận rằng tất cả đã hỏng, rằng cái duy nhất có thể làm, đấy là tiến hành một nỗ lực táo bạo ngăn chặn cuộc đấu tranh vô bổ của những lãnh tụ đối lập bất mãn bằng "những bản nhận tội".

Mrachkovsky yêu cầu cho phép anh ấy gặp Ivan Smirnov, bạn chiến đấu gần gũi của mình. Slutsky xuống lệnh dẫn Smirnov từ phòng giam tới, và cuộc gặp gỡ giữa hai người đồng chí diễn ra trong văn phòng của Slutsky. Chúng ta để Slutsky khắc họa cuộc gặp gỡ này:

- Đó là một cảnh đau đớn. Hai người anh hùng của cách mạng ôm nhau. Họ khóc. Mrachkovsky nói với Smirnov: "Ivan Nikitich, chúng mình cho họ cái mà họ muốn đi. Điều này buộc phải làm". Smirnov không đồng ý và trả lời: "Tớ chẳng việc gì phải nhận tội. Tớ chưa bao giờ chống lại chính quyền Soviet. Tớ chưa bao giờ chống lại đảng. Tớ chưa bao giờ là tên khủng bố và tớ chưa bao giờ có ý định giết ai cả".

Mrachkovsky cố gắng thuyết phục Smirnov, nhưng Smirnov không đầu hàng. Trong suốt thời gian đấy họ ôm nhau và thổn thức. Cuối cùng người ta dẫn Smirnov đi.

- Mrachmovsky một lần nữa trở nên bướng bỉnh và bực tức, - Slutsky tiếp tục. - Anh ấy lại bắt đầu gọi Stalin là tên phản bội. Thế nhưng đến cuối ngày thứ tư anh ấy ký vào tờ nhận tội trọn vẹn, được làm cho anh ấy trong các bước xét xử. Tớ đi về nhà. Cả tuần lễ tớ không thể làm việc nổi, cảm thấy rằng mình không thể sống tiếp.

Cũng cần nói thêm rằng sau khi Mrachkovsky đưa bản thú tội của mình cho OGPU, Ivan Smirnov làm theo lời khuyên của người đồng chí của mình và bị đánh gục. Tuy thế trong buổi xét xử công khai đầu tiên Smirnov có vài cố gắng phản cung lại bản nhận tội của mình, nhưng công tố viên đều chặn đứng những cố gắng đấy.


Chú thích của người dịch:

Walter Krivitsky, tên thật là Samuel Ginsberg, là một nhà tình báo Soviet và bỏ chạy sang phương Tây trước Thế chiến thứ hai. Tôi từng là mật vụ của Stalin được viết khi Krivitsky ở Mỹ và xuất bản năm 1939 (theo Britannica online, mục Stalin, additional reading).

Mrachkovsky bị xử án trong phiên tòa thường được gọi bằng tên "phiên tòa Maxcova" đầu tiên hay "phiên tòa mười sáu người", diễn ra từ ngày 19 tháng 8 đến 24 tháng 8 năm 1936. Họ bị kết tội thành lập tổ chức khủng bố với mục đích ám sát Stalin và các lãnh đạo chính quyền Soviet khác. Họ đều bị kết án tử hình.

OGPU: Liên hiệp Cục Chính trị Quốc gia, tiền thân của Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB) sau này.

Các phương pháp thẩm vấn của OGPU: phương pháp tra tấn, phương pháp bóp méo sự thật với sự giúp đỡ của các nhân chứng giả tự tạo, phương pháp đàn phán giữa điện Kreml và nạn nhân. Hệ thống liên hoàn ba giai đoạn thẩm vấn bắt đầu bằng giai đoạn tra tấn và sau đó chuyển sang giai đoạn hoàn toàn ngược lại.

Monday, May 14, 2007

Koestler và Krivitsky

Đoạn trích sau được dịch từ bài viết Bi kịch của những con người thép của A. Koestler thay cho lời bạt trong cuốn tiểu thuyết Bóng tối giữa ban ngày, bản tiếng Nga, do Aleksiev dịch. Đoạn trích này là lời biện hộ của Koestler về sự trùng hợp kỳ lạ những chi tiết trong tiểu thuyết Bóng tối giữa ban ngày của ông và cuốn sách tự thuật Tôi từng là mật vụ của Stalin của Krivitsky. Điều đáng chú ý là cuốn sách của Krivitsky được xuất bản trước khi tiểu thuyết của Koestler được xuất bản. Lời biện hộ mình của Koestler liệu có đáng tin cậy không?



Bi kịch của những con người thép
A. Koestler

[trích dịch]



Tôi chỉ đọc cuốn sách của Krivitsky vài năm sau khi hoàn thành Bóng tối giữa ban ngày, bởi vì khi viết xong tiểu thuyết của mình một thời gian dài tôi không còn sức để có thể chạm vào bất cứ thứ gì liên quan đến nó. Khi đọc tôi cứ phải chịu đựng cảm giác bệnh hoạn mà các nhà tâm thần học gọi là deja vu. Sự giống nhau với lần thẩm vấn Rubashov lần đầu thật là kỳ lạ. Vấn đề không phải ở chỗ trùng lặp logic của Slutsky và Ivanov - cái này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì thực chất tiểu thuyết được hình thành bằng chính cùng một nhóm quan niệm và sự kiện. Trùng lặp các chi tiết đến sửng sốt: trong cả hai truyện khi bắt đầu thẩm vấn đã lộ rõ những ký ức về cuộc nội chiến, trong đó người thẩm vấn trong thời gian đấy là cấp dưới của người bị thẩm vấn; trong cả hai truyện một người trong số họ bị thương nặng ở chân; và cuối cùng trong cả hai truyện người ta cũng thanh toán người thẩm vấn. Tôi cảm thấy là tôi đọc về hai người giống nhau như đúc về tinh thần, Ivanov và Rubashov, tựa hồ như là sự thật trong những cách thức mơ hồ đã thăng hoa những tư liệu hiển nhiên của trí tưởng tượng của tôi.


Wednesday, May 9, 2007

Hậu hiện đại: Vị Hoàng đế cởi truồng

Khi đọc Hạt cơ bản tôi bắt được dòng chữ này: "Cũng cần nói thêm rằng các vấn đề triết học đã mất đi toàn bộ những quy chiếu xác định ở công chúng đông đảo. Sự lố bịch ở mức độ toàn cầu mà các công trình của Foucault, Lacan, Derrida và Deleuze đột ngột rơi vào sau nhiều thập niên được tán dương quá lố nhất thời không nhường lại chỗ cho bất kỳ một tư tưởng triết học mới mẻ nào, mà ngược lại khiến toàn thể các trí thức tự xưng là chuyên gia về “khoa học nhân văn” bị mất giá;" và tôi cảm thấy cực vui mừng. Ít nhất nó cũng cho thấy rằng, tuy không được chính thống lắm vì là đánh giá ở trong một tác phẩm hư cấu, không phải chỉ có một người thấy những Foucault, Lacan, Derrida ... là những vị hoàng đế cởi truồng. Tôi luôn nghi ngờ về cái gọi là Hậu hiện đại và những thứ nghệ thuật hậu hiện đại, nhưng trình lại không đủ để có thể phê phán, chỉ nghe hơi lõm bõm chỗ này chỗ nọ. Hẳn Houellbecq viết những dòng chữ trên trong bầu không khí của "Sokal hoax", một đòn chí tử giáng vào Hậu hiện đại.

Tôi tin rằng Hậu hiện đại đã chết. Và chắc hẳn không ai còn muốn bới một xác chết nữa. Nhưng dù sao tôi thấy khai quật tử thi này cũng có khi thú vị, nhất là cho một kẻ ngoại đạo như tôi. Nhưng làm thế nào để khai quật tử thi này khi đọc những thứ hậu hiện đại không thể vào được? Hay học theo cụ Khổng "kính nhi
viễn chi" thôi?

Sunday, May 6, 2007

Nghệ thuật và cuộc sống

Bakhtin nói rằng: "Ba mặt văn hóa của con người - khoa học, nghệ thuật và cuộc sống chỉ tìm được sự thống nhất trong nhân cách, cái đưa chúng tới sự thống nhất của mình." Ông viết tiếp: "Khi con người ở trong nghệ thuật, anh ta không ở trong cuộc sống, và ngược lại. Giữa chúng không có sự thống nhất và tương hỗ lẫn nhau nội tại trong sự thống nhất của nhân cách. Vậy cái gì đảm bảo mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố của nhân cách? Chỉ có sự thống nhất của trách nhiệm. Vì những gì tôi trải nghiệm và thấu hiểu trong nghệ thuật, tôi phải trả lời bằng chính cuộc sống của mình, để tất cả những trải nghiệm và thấu hiểu không còn là bất tác trong cuộc sống."

Tôi nghĩ rằng nghệ thuật và cuộc sống phải thống nhất trong một nhân cách. Và cuộc sống ở đây phải là cuộc sống của chính bản thân anh ở nơi anh, không của ai khác, không ở ngoài kia. Tách rời nghệ thuật ra khỏi cuộc sống của tác giả khiến tác phẩm nghệ thuật khô cứng, máy móc, nhạt nhẽo, không có sinh lực của cuộc đời. Do đó thẩm mỹ một tác phẩm nghệ thuật không phải chỉ thẩm mỹ riêng tác phẩm đó, trần trụi, tách bạch với cuộc sống của tác giả, mà phải thẩm mỹ tác phẩm đó trong sự thống nhất của nhân cách giữa tác phẩm và cuộc sống của tác giả. Nhiều người đề cao các tác phẩm Orwell, nhưng tôi lại cảm thấy những Trại súc vật, 1984 hết sức khô cứng, chán ngắt. Orwell đã "
rút gọn một cách khắt khe một thực tại vào trong phương diện chính trị của thực tại ấy và rút gọn chính cái phương diện chính trị ấy vào trong những gì tiêu cực nhất của nó... Cuốn tiểu thuyết của Orwell, bất chấp ý định của nó, chính nó lại tham gia vào tinh thần toàn trị, tinh thần tuyên truyền", như Kundera nhận định. Tôi đặt câu hỏi tại sao các tác phẩm của Orwell lại đến nông nỗi vậy? Câu trả lời mãi tận gần đây tôi mới nhận ra khi các tài liệu mật về Orwell được giải mật: chính bản thân Orwell theo dõi và tố giác cuộc sống riêng tư của các nhà hoạt động văn hóa. Ông đã làm chính cái việc mà ông đã nỗ lực "rút gọn một cách khắt khe" trong các tác phẩm của mình. Do không có sự thống nhất giữa nghệ thuật và cuộc sống trong nhân cách của ông, nên các tác phẩm nghệ thuật của ông tẻ nhạt. Cao Bá Quát là ví dụ khác về sự thống nhất trong nhân cách của nghệ thuật và cuộc sống.

Có thể có ai đó sẽ cho rằng đây chỉ là một cách khác nói khác của
Sainte-Beuve, mà Proust đã phê phán. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Sainte-Bueve chỉ xét tới tiểu sử của tác giả, và không hề biết tới sự thống nhất của nhân cách.