Saturday, March 24, 2007

Đọc sách: Những lối đi dưới hàng cây tăm tối của I. Bunin


Tên truyện:
Những lối đi dưới hàng cây tăm tối
Tác giả: Ivan Bunin
Dịch giả: Hà Ngọc
Nhà xuất bản: Nhã Nam và Văn học (2005)

Đây là tập truyện ngắn cuối cùng của Bunin, nhà văn Nga đầu tiên đoạt giải Nobel về văn học. Bunin viết những truyện ngắn này khi ông đang lưu vong ở Pháp, xa nước Nga của ông. Đó là tập truyện về tình yêu, thấm đẫm chất thơ và tâm hồn Nga. Dù xa cách nước Nga, Bunin luôn tự nhận mình "tôi là một con người rất Nga, dù bao nhiêu năm tháng cũng không mất đi được." Bunin sáng tác những truyện ngắn này khi ông đã ở tuổi xế chiều trên con đường nghệ thuật của mình. Thế nhưng Bunin nhận định rằng tập truyện ngắn này là "những tác phẩm hoàn thiện nhất về tài nghệ của mình". Đấy không phải là sự suy tàn nghệ thuật, mà là độ chín đỉnh cao của nghệ thuật.

Điều đáng tiếc, tập truyện ngắn này do Nhã Nam xuất bản đã không còn cấu trúc nguyên vẹn của tập truyện. Trong Tuyển tập Bunin gồm 4 tập xuất bản ở Matxcơva năm 1988, tập truyện Những lối đi dưới hàng cây tăm tối gồm 3 phần có 37 truyện ngắn. Tập truyện do Nhã Nam xuất bản chỉ có 15 truyện, trong số đó lại có những truyện được Bunin công bố trước đó, ví dụ như truyện Những quả táo Antonov viết từ năm 1900. Chỉ có 5 truyện ngắn cuối cùng trong tập truyện do Nhã Nam xuất bản là nằm trong tập Những lối đi dưới hàng cây tăm tối. Đây có thể coi là lỗi lớn của nhà xuất bản, đã xuất bản một tập truyện bị ăn bớt và thay đổi mà không thông báo cho độc giả biết. Lỗi lầm này đã khiến độc giả không thể thưởng thức một tập truyện trọn vẹn do Bunin sáng tác khi đã ở độ chín của tài năng.

Những lối đi dưới hàng cây tăm tối là tên một truyện ngắn trong tập truyện. Tên truyện ngắn này được cảm hứng từ hai câu thơ của Ogaev: "Tứ phía tầm xuân nở hoa đỏ thắm / Song những lối đi vẫn tăm tối dưới hàng cây đoạn âm u". Truyện kể về một vị tướng tình cờ gặp lại người yêu của mình ba mươi nhăm năm trước tại một quán trọ bên đường giữa mùa thu ẩm ướt những lối đi dưới hàng cây tăm tối và những cỗ xe ngựa vấy bùn. Câu chuyện thật trong trẻo và nhẹ nhàng, như đối nghịch lại với tăm tối và nặng nề của những cỗ xe trên những lối đi dưới hàng cây. Vị tướng cảm thấy mối tình đã qua, thời gian đã qua "là những giây phút tươi đẹp nhất" của cuộc đời ông. Nhưng ông lại không hối lỗi và cũng không muốn quay về cái thủa xa xưa dĩ vãng đó nữa. "Mọi sự đều qua đi cả ... Cả tình yêu, cả tuổi trẻ - tất, tất thảy", "Điều mà ta hồi tưởng lại, sẽ chỉ như dòng nước đã trôi qua." "Dòng nước đã trôi qua", có cái gì dịu dàng, có cái gì quyến rũ, có cái gì để nhớ, để thương hơn thế?

Friday, March 23, 2007

Truyện Hoa Tiên

Hoa tiên ký là một bộ Mộc Ngư ca, khúc dân ca ở Quảng Đông, sáng tác bằng Việt ngữ (tiếng Quảng Đông). Các bộ Mộc Ngư ca tập hợp thành tập gọi là Mộc Ngư thư. Trong Mộc Ngư thư có 11 bộ gọi là Tài tử thư. Hoa tiên ký là bộ thứ tám trong Tài tử thư, nên còn gọi là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký. Tài tử thư gồm các tác phẩm sau: Tam quốc, Hảo cầu truyện, Ngọc kiều lê, Bình san lãnh yến, Kim trâm ký, Tây sương ký, Tỳ bà ký, Hoa tiên ký, Nhị hà hoa sử, San hô phiến kim tỏa uyên ương ký.

Tôi chưa tìm được bản chữ Hán của Hoa tiên ký nên chưa so sánh được với nhận xét của Goethe.

Nguyễn Huy Tự có diễn nôm Hoa tiên ký thành Truyện Hoa tiên. Sau đây là tóm tắt nội dung Truyện Hoa tiênvnthuquan.net

Cõi Tô-châu có nhà họ Lương, Lương tướng-công tên chữ Ấn Ba, làm quan tại triều đến chức Bình-chương (Tể-tướng); vợ là Diêu-thị, chị ruột của Diêu-công hiện là Đô-ngự-sử tại triều. Hai ông bà hạ sinh được một trai, đặt tên Phương Châu, tự Diệc Thương. Được 20 tuổi, Lương-sinh diện-mạo khôi ngô, tài ba xuất chúng; sinh xin phép mẹ đi du học bên quê ngoại ở Tràng-châu. Phu-nhân cho và dặn nhân tiện đi mừng sinh-nhật của Diêu phu-nhân, mợ dâu Lương-sinh. Trong lễ sinh-nhật, đêm đến Lương-sinh ra vườn dạo trăng, tình cờ gặp hai mỹ-nhân đang chơi cờ, nhan-sắc lộng-lẫy; sinh để ý quyến-luyến cô mặc xiêm trắng là nàng Dương Giao Tiên, con quan Dương tham-đô, em ruột Diêu phu-nhân. Sinh dò la thăm hỏi, rồi mua một căn nhà ở cạnh Dương-phủ, cho sửa-sang dọn về ở đó, để hòng tiện bề lân-la. Thừa-ưa Dương-tướng lại là bạn thân của Lương-công, thành-thử việc vãng lai thù tạc giữa Dương-công và Lương-sinh cũng được dễ dàng mau-lẹ. Dường như trời cũng chiều người, một mặt Dương-công mến tài Lương-sinh, quyết tâm kén càng làm rể; một mặt, nhờ khéo mua lòng Vân Hương, Bích Nguyệt, Lương-sinh nhờ sức hai đứa nó giúp tay trong, nên chi trước khi được Dương-công ngỏ lời hứa gả con cho, Lương-sinh đã có dịp gặp Giao Tiên, cùng nhau làm lễ dưới trăng, hẹn non thề biển.
Chợt Lương phu-nhân sai người sang rước Lương-sinh về. Đến nhà Sinh chưa kịp nói chi về việc đính hôn của mình thì phu-nhân cho hay rằng ông bà đã đính hôn Sinh cùng Lưu Ngọc Khang, con gái Lư Lại-bộ. Cái tin sét đánh ấy làm cho Lương-sinh lỡ khóc lỡ cười !
Bên kia, Diêu-sinh trong dịp đi mừng sinh nhât Dương-công, cho ông hay việc đính hôn của Lương-sinh với Lưu tiểu-thư. Một trận thống khổ cho Giao Tiên, khi tin ấy lọt đến tai nàng. Dương-công thăng chức về kinh, kế lại vâng chiếu ra biên quan ngăn giặc Hồ. Gia-quyến ông tạm náu nương nơi nhà Tiền Hàn-lâm, em họ Dương phu-nhân.
Lương-sinh trở qua Tràng-châu, tìm nơi vườn cũ, thì hỡi ôi! cầu đá rêu phong, lối thơm tuyết phủ, người quen còn biết về đâu ? Vì quá si tình, Sinh đã toan bỏ phế cả việc sách-đèn khoa-cử. Diêu-sinh khéo lời khuyên-giải, Lương-sinh cũng nguôi dần.
Tại kinh, Giao Tiên được tin cha bị giặc Hồ vây, nỗi khổ vì tình lại tăng thêm nỗi đau vì hiếu. Lương-sinh và Diêu-sinh đồng xuống kinh ứng cử, cả hai đều trúng tuyển, kẻ Thám-hoa người Hoàng-giáp. Diêu bổ đi ngoài cõi, Lương thì vào Hàn-lâm. Thừa-ưa chốn trọ của Lương lại liền tường với Tiền-nha. Một đêm kia, lúc dạo trăng sau vườn, Lương-sinh tình-cờ gặp Giao Tiên, đôi bên mừng mừng tủi tủi, hết câu hờn-rỗi, đến chuyện nhớ mong. Hôm sau, Lương-sinh dâng biểu xin ra giải vây cho Dương-tướng. Chẳng ngờ ra đến biên-thùy, Sinh lầm kế phục binh, bị khổn ngoài ấy. Tin đồn về rằng Sinh đã liều mình trong quân rồi. Giao Tiên nghe tin dữ toan tự-tử, nhờ Vân Hương khéo can-gián nên tạm thôi. Bên nhà Lưu-công nghe tin Lương-sinh tử tiết, Lưu phu-nhân định đem Lưu Ngọc Khanh gả ép nơi khác; nàng một mực không vâng lời, nhân đêm trốn ra sông tự-vẫn. Thời may, thuyền Long Đề-học về kinh vừa đến ngang đó, vớt được nàng, và sau khi hỏi rõ nguyên-do, nhận nàng làm dưỡng nữ.
Diêu-sinh theo đại-quân phá giặc; hay tin Lương-sinh còn sống cả mừng. Cùng thông tin nhau, dùng mưu nội-ứng ngoại-hiệp, giáp-công phá vỡ địch-quân, luôn dịp giải vây cho Dương-tướng; thắng trận ban sư.
Ngoài việc thưởng công phong tước, Lương-sinh lại được vua tứ-hôn cho. Liền sau đó, thuyền Long Đề-học đến kinh, ông đem việc Lưu ngọc Khanh tâu lên vua; vua tứ-hôn luôn Ngọc Khanh cho Lương-sinh, đồng bậc với Giao tiên. Nghĩ công trước của Bích Nguyệt, Vân hương, Lương-sinh thâu nạp hai nàng làm tiểu-tinh.

Wednesday, March 21, 2007

J. W. Goethe: Văn chương thế giới

LND: Từ bài điểm sách về cuốn Bức rèm của Milan Kundera tôi đi tìm hiểu xuất xứ khái niệm "Văn chương thế giới" của Goethe. Khái niệm "văn chương thế giới" được Goethe đề cập tới trong buổi chuyện trò với Eckermann, thư ký của ông. Theo Goethe, "văn chương thế giới" bao gồm tất cả các thể loại văn chương, trong đó có cả thi ca. Đặc điểm này có lẽ rất khác với quan niệm "văn chương thế giới" của Kundera.

Trích đoạn sau được dịch từ bản dịch tiếng Anh của J. Oxenford.

Đông A




TRÒ CHUYỆN VỚI GOETHE

P. Eckermann ghi


Thứ tư, 31 tháng 1 năm 1827

Bên bàn của Goethe. "Trong mấy ngày này từ lúc không thấy anh," ông nói, "tôi đọc nhiều và lắm thứ khác nhau; đặc biệt là một cuốn tiểu thuyết Trung Quốc vẫn còn choán lấy tôi và dường đối với tôi rất đặc biệt."

"Tiểu thuyết Trung Quốc!" tôi thốt lên; "hẳn là rất lạ."

"Không đến mức như anh tưởng đâu," Goethe nói; "người Trung Quốc suy nghĩ, hành động, và cảm xúc gần giống hệt như chúng ta; chúng ta sẽ thấy ngay là chúng ta hoàn toàn giống như họ, ngoại trừ tất cả những thứ họ làm rõ ràng hơn, sạch sẽ hơn và phẩm cách hơn với chúng ta.

"Với họ mọi thứ đều hợp lý, lịch sự, không có đam mê lớn hay xung lực thi ca; và rất giống với "Hermann và Dorothes" của tôi, cũng giống như với các tiểu thuyết của Richardson. Họ cũng khác chúng ta, bởi vì đối với họ thiên nhiên luôn luôn sống cùng với các hiện hữu của con người. Anh luôn nghe thấy cá vàng quẫy trong ao, chim chóc luôn hót trên cây, ban ngày luôn sáng sủa và đầy nắng, ban đêm luôn rõ ràng. Mặt trăng thường xuyên được nhắc đến, nhưng nó không làm thay đổi phong cảnh, ánh trăng được tưởng tượng tự sáng như ban ngày; và bên trong nhà ngăn nắp và tao nhã như những bức tranh của họ. Ví dụ, "Tôi nghe thấy những cô gái đáng yêu đang cười, và khi tôi thấy họ, họ đã ngồi trên những chiếc ghế mây." Ở đó, anh có ngay lập tức một tình thế đẹp nhất; những chiếc ghế mây tất yếu tương ứng với cái nhẹ nhàng và tao nhã nhất. Ở đó có vô số các điển tích luôn luôn được đưa vào trong các câu chuyện, và được áp dụng gần như là các thành ngữ; ví dụ một điển tích về một cô gái rất nhẹ nhàng và duyên dáng trên đôi chân đến mức cô ta có thể tự cân bằng trên một bông hoa mà không làm nát hoa; điển tích khác về một chàng trai đức hạnh và dũng cảm đến mức ở tuổi ba mươi chàng trai có vinh hạnh được diện kiến Hoàng Đế; một điển tích khác về một cặp tình nhân cho thấy sự trong trắng vĩ đại trong suốt quá trình tìm hiểu dài lâu đến mức trong một trường hợp họ qua đêm ở cùng một căn phòng nhưng chỉ trò chuyện suông trong suốt thời gian mà không hề gần gũi nhau.

"Và với cung cách như vậy có vô số điển tích khác, tất cả xoay quanh cái gì là đạo đức và chính đính. Đấy là sự tiết chế khắt khe trong mọi thứ mà Đế chế Trung Quốc tự duy trì suốt hàng ngàn năm và sẽ còn tiếp tục mãi.

"Tôi thấy có sự đối nghịch rất rõ đối với tiểu thuyết Trung Quốc này trong "Khúc ca của Beranger", tác phẩm chứa đựng, hầu như mọi nhân vật, một chủ đề phóng túng đồi bại nào đó để xây dựng họ, và sẽ trở nên cực kỳ ghê tởm đối với tôi nếu như bị quản lý bởi các nhân vật thiên tài của Beranger; thế nhưng ông ấy tạo ra họ không chỉ có thể chịu được mà còn thích thú nữa. Anh cho tôi biết có phải đáng để ý là chủ đề của nhà thơ Trung Quốc phải trở nên đạo đức triệt để thế và những thứ của nhà thơ Pháp đầu tiên hiện nay chính xác trở nên đối nghịch?"

"Những tài năng như của Beranger," tôi nói, "sẽ chẳng thấy một lĩnh vực nào trong những chủ đề đạo đức."

"Anh nói đúng," Goethe nói; "chính những đồi trụy của thời đại ông ta phát lộ và phát triển bản ngã tốt hơn của ông ta."

"Thế nhưng," tôi nói, "có phải tiểu thuyết Trung Quốc này là tiểu thuyết hay nhất của họ?"

"Chẳng phải vậy," Goethe trả lời, "người Trung Quốc có cả hàng ngàn tiểu thuyết như vậy, và họ đã có ngay khi tổ tiên chúng ta còn sống ở trong rừng rú.

"Tôi càng ngày càng tin chắc," Goethe tiếp tục nói, "rằng thi ca là tài sản phổ quát của con người, tự phát lộ ở bất cứ đâu, và ở mọi thời đại, trong hàng trăm, hàng trăm con người. Có người làm thơ hay hơn người khác một chút, và nổi lâu hơn người khác một chút - đó là tất cả. Ngài von Matthisson chẳng cần phải nghĩ mình là một con người hay tôi phải nghĩ rằng tôi là một con người; nhưng mỗi người cần phải nói với chính bản thân mình rằng năng khiếu thi ca chắc chắn không phải quá hiếm, và không ai buộc phải suy nghĩ rất nhiều về chính mình chỉ vì anh ta làm ra bài thơ hay.

"Nhưng, thực ra, chúng ta những người Đức rất có khả năng quá dễ rơi vào tính tự phụ ra vẻ mô phạm này, khi chúng ta không nhìn ra ngoài phạm vi chật hẹp bao quanh chúng ta. Tôi vì thế muốn nhìn về mình trong những dân tộc khác, và khuyên mọi người cũng làm như vậy. Văn chương dân tộc giờ đây không nói lên nhiều lắm; kỷ nguyên của văn chương Thế giới đang tới, và mỗi người cần phải nỗ lực thúc đẩy nó tới. Thế nhưng trong khi chúng ta đánh giá cái gì là ngoại, chúng ta cần phải không tự ràng buộc mình với bất cứ thứ gì nói riêng, và coi chúng như là một điển hình. Chúng ta cần phải không nghĩ rằng người Trung Quốc có thể trở nên thế, hay người Servian, hay người Calderon, hay người Nibelungan; nhưng nếu chúng ta thực muốn một điển hình chúng ta cần phải luôn luôn quay về những người Hy Lạp cổ đại, trong những tác phẩm của họ cái đẹp của loài người luôn luôn được trình bày. Tất cả những cái còn lại chúng ta cần phải xem xét một cách lịch sử thôi, dành riêng cho chính mình cái gì là tốt đẹp, trong chính chừng mực của nó."

Tôi vui sướng được nghe Goethe nói khá dài về một chủ đề có ý nghĩa quan trọng như vậy.


Chú thích sau khi dịch:


Theo tập Thế giới qua văn
học (The world through literature) của C.G. Laird thì tác phẩm Trung Quốc mà Goethe đọc và đề cập trong buổi chuyện trò trên là Hoa tiên ký (Hua ch'ien chi,花箋記). U.C. Fischer trong bài viết "Goethe's "Chinese-German book of seasons and hours" and "worldliterature" cho biết tiểu thuyết mà Goethe đề cập tới là quyển "The affectionate pair, or the history of Sung-Kin" (có lẽ không phải là Hoa tiên ký, mà là Hảo cầu truyện) do P.P Thoms dịch căn cứ vào việc thư viện của Goethe ở Weimar có bản dịch tiếng Anh của Thoms.

Sunday, March 18, 2007

Đọc sách: Trên đỉnh dốc của Lê Ngọc Mai

Tên sách: Trên đỉnh dốc
Tác giả: Lê Ngọc Mai
Nhà xuất bản: Pi C&E và Hội nhà văn (2006)


Những mảnh khảm trên bức tranh khoa học Việt Nam


Trên đỉnh dốc viết về các nhà khoa học Việt Nam, chính xác hơn về những mảnh đời của một số nhà nghiên cứu khoa học. Đó là Thái, Sơn, Khang, Thùy, là ông Cao, giáo sư Trường, viện sĩ Trương Cự Phong. Cuốn tiểu thuyết không phải là tiểu sử cuộc đời trọn vẹn của các nhà khoa học, mà chỉ là những đoạn đời trong bức tranh khoa học Việt Nam không đa màu, đa sắc nhưng đầy đa đoan phức hợp. Đấy là thân phận con người, đấy là sự tha hóa, đấy là những ảo tưởng, đấy là những toan tính, mưu mô. Tất cả tề tựu trong một cuốn tiểu thuyết.

Trong bức tranh ảm đạm của nền khoa học Việt Nam đó, nổi bật lên trên tất cả là đặc tính kitsch của các nhân vật. Họ là những con người kitsch - kitschmensch - những người có nhu cầu kitsch. Kundera định nghĩa nhu cầu kitsch của con người như sau: "đấy là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá làm đẹp người lên và tự nhận ra mình trong đó với một sự thỏa mãn đầy xúc động." Đó là viện sĩ Trương Cự Phong với hàng tá danh hiệu rởm. Đó là Thái với tình thế trớ trêu đã tự tha hóa mình trong danh tiếng vốn không có. Đó là Khang với nỗ lực cố gắng thoát ra khỏi tấm gương nịnh mặt ma quái. Có thể nói hình tượng tấm gương nịnh mặt là một thành công của tiểu thuyết. Tấm gương nịnh mặt là một hình ảnh trực quan rõ ràng nhất của tình thái kitsch. Nụ cười đắc thắng của tấm gương nịnh mặt đối với Khang đã chấm dứt những cố gắng thoát ra khỏi tình trạng kitsch của các nhân vật.

Nhược điểm của cuốn tiểu thuyết là các nhân vật không có các kết nối nội tại. Họ như những hạt cát vo lại trong một nắm tay mà nếu chỉ cần xòe tay ra là các hạt cát sẽ rã ra thành từng hạt một. Nếu tách các nhân vật ra, ta sẽ có các tiểu truyện của Thái, của Sơn, của Thùy, của Khang. Giữa các tiểu truyện này không hề có chung cấu trúc nội tại của tiểu thuyết. Tác giả đã cố gắng đưa cái hài hước vào trong tiểu thuyết, nhưng không được thành công. Cuốn tiểu thuyết cũng chưa xây dựng được các tình thế nhân sinh mà các nhân vật trong đó qua các tình thế đấy phác lộ bản tính của mình. Đó là những điểm kém hấp dẫn của Trên đỉnh dốc.

Monday, March 12, 2007

Hương Tuyết Hải

Tình cờ xem bộ phim "Thiên ngoại phi tiên" thấy có mấy câu thơ về Hương Tuyết Hải, một nhân vật trong phim, vốn là linh miêu trên trời. Chép ra đây dịch chơi. Vẫn chưa biết xuất xứ bài thơ này .

路盡隱香處
翩然雪海間
梅花仍尤在
雪海何處尋

Lộ tận ẩn hương xứ
Phiên nhiên tuyết hải gian
Mai hoa nhưng vưu tại
Tuyết hải hà xứ tầm

Đường tận hương thầm ẩn
Mênh mang biển tuyết im
Hoa mai còn thắm mãi
Biển tuyết chốn nào tìm
(Đông A dịch)

Tuyết trắng mênh mang, hương thơm u uẩn, biết tìm hoa mai chốn nào? Tôi cứ hình dung giữa tuyết trời ngút ngàn đó, những cánh mai hồng thắm ngát hương mà không thể nào thấy, không thể nào tìm, không thể nào đạt tới, dẫu dường như những cánh mai đó còn u uẩn đâu đây.

Friday, March 2, 2007

Lý Thương Ẩn: Vô đề



VÔ ĐỀ
Lý Thương Ẩn


Bài vô đề đầu tiên của Lý Nghĩa Sơn mà tôi được đọc là bài "Tương kiến thời nan..." ở trong tập Đường Thi do Nam Trân chủ biên của Nhà xuất bản Văn học. Lúc đó tôi cứ tưởng Lý Nghĩa Sơn chỉ có một bài vô đề. Sau đọc Đường thi tam bách thủ thấy có bốn bài thơ vô đề của Lý Nghĩa Sơn. Sau đấy lại biết thêm hai bài thơ vô đề nữa, tổng cộng biết sáu bài thơ vô đề của Lý Nghĩa Sơn. Khi mạng internet phát triển Toàn Đường thi được số hóa , tra cứu dễ dàng thuận tiện mới biết Lý Nghĩa Sơn làm khá nhiều bài vô đề, đủ loại thất ngôn, ngũ ngôn, bát cú , tứ tuyệt.

Trong Tùy viên thi thoại Viên Mai có nói: "Thơ không có đề mục là tiếng thiên nhiên, thơ có đề mục là tiếng của người, tiếng thiên nhiên dễ hay, tiếng của người khó hay." Thơ Lý Nghĩa Sơn không có đề mục hay là có đề mục là "Vô đề"?

Lúc dịch bài vô đề "Văn đáo Xương môn Ngạc Lục Hoa", tôi đã không biết Ngạc Lục Hoa là tên một tiên nữ, cứ tưởng là cái đài lục hoa gì đó, tuy đã thấy lạ chữ hoa (華) không phải là chữ hoa (花). Sau mới biết là mình nhầm, chưa thông điển tích. Đọc chữ Hán thật khó phân biệt danh từ riêng vì không có kiểu viết hoa để phân biệt.

Đông A



昨夜星辰昨夜風
畫樓西畔桂堂東
身無彩鳳雙飛翼
心有靈犀一點通
隔坐送鉤春酒暖
分曹射覆蠟燈紅
嗟余聽鼓應官去
走馬蘭臺類轉蓬

Tạc dạ tinh thần tạc dạ phong
Họa lâu tây bạn quế đường đông
Thân vô thái phượng song phi dực
Tâm hữu linh tê nhất điểm thông
Cách tọa tống câu xuân tửu noãn
Phân tào xạ phúc lạp đăng hồng
Ta dư thính cổ ưng quan khứ
Tẩu mã lan đài loại chuyển bồng

Sao sáng đêm qua gió lộng không
Bên tây lầu vẽ quế đường đông
Thân nào cánh phượng bay muôn sắc
Tâm sẵn sừng tê điểm cảm thông
Chuốc rượu xuân nồng ngồi cách biệt
Chia bên đùa bắn dưới đèn hồng
Ôi nghe trống giục đi chầu chúa
Phóng ngựa lên đài tựa cỏ bồng


來是空言去絕蹤
月斜樓上五更鐘
夢為遠別啼難喚
書被催成墨未濃
蠟照半籠金翡翠
麝薰微度繡芙蓉
劉郎已恨蓬山遠
更隔蓬山一萬重


Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung

Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán
Thư bị thôi thành mặc vị nùng
Lạp chiếu bán lung kim phỉ thúy
Xạ huân vi độ tú phù dung
Lưu lang dĩ hận Bồng sơn viễn
Cánh cách Bồng sơn nhất vạn trùng

Ðến chẳng nói năng biến tuyệt tung
Canh năm chuông điểm gác trăng suông
Mộng làm xa cách kêu khôn tiếng
Thư bị thúc thôi mực chẳng nồng
Nến chiếu lung linh chim phỉ thúy
Hương thơm thoang thoảng gấm phù dung
Chàng Lưu vốn hận non Bồng thẳm
Lại cách Bồng sơn cả vạn trùng

颯颯東風細雨來
芙蓉塘外有輕雷
金蟾嚙鎖燒香入
玉虎牽絲汲井回
賈氏窺簾韓掾少
宓妃留枕魏王才
春心莫共花爭發
一寸相思一寸灰

Táp táp đông phong tế vũ lai
Phù dung đường ngoại hữu khinh lôi
Kim thiềm niết tỏa thiêu hương nhập
Ngọc hổ khiên ti cấp tỉnh hồi
Giả thị khuy liêm Hàn duyện thiếu
Mật phi lưu chẩm Ngụy vương tài
Xuân tâm mạc cộng hoa tranh phát
Nhất thốn tương tư nhất thốn hôi

Rào rạt gió đông mưa nhẹ lan
Ngoài ao sen vẳng sấm vang ran
Cóc vàng ngậm khóa thiêu hương tỏa
Hổ ngọc quay dây múc giếng tràn
Trao gối Mật phi tài chúa Ngụy
Liếc rèm Giả thị trẻ quan Hàn
Lòng xuân chớ với hoa đua nở
Một tấc tương tư một tấc tàn


相見時難別亦難
東風無力百花殘
春蠶到死絲方盡
蠟炬成灰淚始幹
曉鏡但愁雲鬢改
夜吟應覺月光寒
蓬山此去無多路
青鳥殷勤為探看

Tương kiến thì nan biệt diệc nan
Đông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử ti phương tận
Lạp cự thành hôi lệ thủy can
Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan


Đã khó gặp nhau lại khó xa
Gió đông sức cạn rụng trăm hoa
Tằm xuân đến thác tơ đành dứt
Nến sáp khi tàn lệ kiệt sa
Sớm ngắm chạnh buồn mây tóc điểm
Đêm ngâm chợt cảm lạnh trăng tà
Bồng lai đến đó khôn nhiều lối
Dò hỏi chim xanh hậu giúp mà


鳳尾香羅薄幾重
碧文圓頂夜深縫
扇裁月魄羞難掩
車走雷聲語未通
曾是寂寥金燼暗
斷無消息石榴紅
斑騅只系垂楊岸
何處西南待好風

Phượng vĩ hương la bạc kỷ trùng
Bích văn viên đính dạ thâm phùng
Phiến tài nguyệt sắc tu nan yểm
Xa tẩu lôi thanh ngữ vị thông
Tằng thị tịch liêu kim tẫn ám
Đoạn vô tiêu tức thạch lựu hồng
Ban chuy chỉ hệ thùy dương ngạn
Hà xứ tây nam nhiệm hảo phong

Phượng vĩ màn hương mỏng mấy trùng
Canh khuya dệt biếc vấn tầng không
Quạt xòe sắc nguyệt che khôn khuất
Xe chạy vang ầm nói chẳng thông
Đây vốn tịch liêu tàn lửa ám
Nào hay tin tức lựu hoa hồng
Ngựa chuy chỉ buộc bên bờ liễu
Đâu chốn tây nam nhận gió nồng


重帷深下莫愁堂
臥後清宵細細長
神女生涯原是夢
小姑居處本無郎
風波不信菱枝弱
月露誰教桂葉香
直道相思了營益
未妨稠悵是清狂

Trùng duy thâm há Mạc Sầu đường
Ngọa hậu thanh tiêu tế tế trường
Thần nữ sinh nhai nguyên thị mộng
Tiểu cô cư xứ bản vô lang
Phong ba bất tín lăng chi nhược
Nguyệt lộ thùy giao quế diệp hương
Trực đạo tương tư liễu vô ích
Vị phương trù trướng thị thanh cuồng

Mạc Sầu nhà kín lớp màn buông
Nằm nghỉ đêm dài lướt mãi không
Thần nữ bến sinh nguyên giấc mộng
Tiểu cô nơi trú bặt đàn ông
Chẳng tin sóng gió mềm nhành ấu
Ai khiến trăng sương ngát quế nồng
Đã biết tương tư nào có ích
Nên chưa buồn thảm hóa thanh cuồng


白道縈迴入暮霞
斑騅嘶斷七香車
春風自共何人笑
枉破陽城十萬家

Bạch đạo oanh hồi nhập mộ hà
Ban chuy tê đoạn thất hương xa
Xuân phong tự cộng hà nhân tiếu
Uổng phá Dương thành thập vạn gia

Đường vắng quanh co nhập ráng tà
Ngựa chuy chốc hý thất hương xa
Gió xuân cứ thổi ai cười nhỉ
Uổng phá thành Dương khắp mọi nhà

聞到閶門萼綠華  
昔年相望抵天涯
豈知一夜秦樓客  
偷看吳王苑內花

Văn đáo Xương môn ngạc lục hoa
Tích niên tương vọng đế thiên nha
Khởi tri nhất dạ Tần lâu khách
Thâu khán Ngô vương uyển nội hoa

Nghe nói Xương môn có Lục Hoa
Năm xưa cùng ước tới thiên hà
Há hay khách gác Tần đêm ấy
Vườn uyển cung Ngô trộm ngắm hoa


Lý Bạch: Quan san nguyệt

QUAN SAN NGUYỆT

LÝ BẠCH

關 山 月



 

 

 





李 白

Quan san nguyệt


Minh nguyệt xuất Thiên san
Thương mang vân hải gian
Trường phong kỷ vạn lý
Xuy độ Ngọc môn quan
Hán hạ Bạch đăng đạo
Hồ khuy Thanh hải loan
Do lai chinh chiến địa
Bất kiến hữu nhân hoàn
Thú khách vọng biên sắc
Tư quy đa khổ nhan
Cao lâu đương thử dạ
Thán tức vị ưng nhàn
Lý Bạch

Trăng quan san


Trăng sáng ló Thiên san
Mênh mang mây núi ngàn
Gió lùa bao vạn dặm
Tới ải Ngọc môn quan
Quân Hán Bạch đăng trấn
Rợ Hồ Thanh hải càn
Xưa nay nơi chiến địa
Mấy kẻ về an toàn
Khách thú ngắm biên tái
Nhớ nhà mặt khổ nhăn
Lầu cao đương tối đấy
Có kẻ không ngừng than
(Đông A dịch)

Tôi thích đọc "quan san" hơn là "quan sơn". Hai vần trùng nhau, âm hưởng dài, tạo cảm giác man mác. Dẫu có không hiểu "quan san" có nghĩa gì thì đọc lên vẫn thấy buồn buồn, như lau sậy xào xạc, như hơi thu hiu hắt, như biên tái chiều buông. Trăng quan san, màu quan san là trăng gì, màu gì, có thể ta không biết, nhưng cảm giác buồn thì không sao tránh được. Chữ nghĩa thật kỳ lạ. Nhạc phủ xếp Quan san nguyệt là "hoành xúy khúc", vốn không có lời, người đời nhân theo chủ đề ly biệt thương cảm nơi quan san biên tái làm thơ, viết thành tên bài Quan san nguyệt. Tôi chưa một lần lên dãy Thiên san, chưa một lần ngắm trăng biên tái, nghe khúc Trăng quan san thấy man mác quạnh hiu. Trăng từ ngàn xưa đều vậy, có nơi nào khác nơi nào, mà sao nơi quan san riêng lại nhuốm màu thương cảm biệt ly ?

"Đêm nay tôi ngắm trăng
Và nhìn chòm Mão lặn
Nửa đêm giờ đã sang
Tuổi trẻ còn đâu nữa
Lẻ loi tôi trên giường"
(Thơ Sappho, Đông A dịch)

Nàng Muse thứ mười của Hy Lạp cô quạnh trong ánh trăng. Nhưng đó là ánh trăng trên đảo Lesbos, đâu đã phải trăng quan san. Đó là sự cô độc của thời gian. Đó không phải là tịch liêu của không gian. Càng bao la, càng mênh mang, càng bát ngát càng hiu hắt tịch liêu. Con người chìm trong không gian vô hạn đó, lại chưa thể hòa đồng nhất thể với vạn vật, tách biệt, đối lập thành một chủ thể riêng rẽ với xung quanh, kết cục thành cô liêu. Đó phải chăng là trăng quan san? Một hình, một bóng giữa non nước mây ngàn nơi quan san vạn lý.