Wednesday, April 22, 2009

Tử đằng

Photobucket

Hoa tử đằng này có tên khoa học là wisteria floribunda. Hoa này còn gọi là tử đằng Nhật để phân biệt với hoa tử đằng Trung quốc cùng chi (wisteria sinensis). Tiếng Đức gọi hoa tử đằng là Blauregen, mưa tím, bởi vì hoa rủ xuống như làn mưa màu tím chảy xuống từ mái hiên. Cái tên vừa đẹp lại vừa man mác buồn. Màu tím đã man mác buồn lại thêm mưa. Cứ theo kiểu Việt Nam loại hoa này dễ bị gọi là lan hay phong lan. Nhiều khi tôi không thể nào hiểu được cách gọi tên hoa của người Việt. [Bổ sung: tiếng Việt gọi hoa này là dây sắn tía]. Loại hoa tím gọi là tử đằng, loại hoa trắng gọi là ngân đằng. Quảng quần phương phổ chép rất nhiều loại cây đằng. Đằng là tên chung chỉ loại cây có tua rủ xuống.

Lý Bạch có bài thơ Tử đằng thụ:

Tử đằng quải vân mộc
Hoa mạn nghi dương xuân
Mật diệp ẩn ca điểu
Hương phong lưu mỹ nhân

Tôi dịch bài Cây tử đằng này thành thơ:

Tử đằng treo chót vót
Lớp lớp tưởng đương xuân
Cánh rậm che chim hót
Hương bay níu mỹ nhân

Tôi bỗng nhận ra ở Việt Nam rất ít hoa mọc trong tự nhiên, hay chính xác hơn, ở thành phố thấy rất ít loại hoa nở ở những nơi công cộng. Có thể rừng Việt Nam có nhiều hoa, nhưng tôi lại chưa bao giờ vào rừng ở Việt Nam. Vào rừng ở Việt Nam có lẽ không an toàn vì dễ có những thứ vắt, rắn, rết. Người Việt chơi hoa không được tự nhiên. Chẳng hạn đào, quất cứ phải thiến đào, đảo quất để ép cây nở hoa hay ra quả vào một khoảng thời gian nhất định. Tưởng là hay, nhưng thực ra rất dở vì không thể nào tạo ra được một phố đào, phố quất. Dịp Tết tôi ra bãi Phúc Xá xem hoa đào, nhưng quả thật không thể nào đẹp bằng một rừng đào hay một bãi đào vì những cây đào ở Phúc Xá đều con con, mang tính bài trí trong nhà hơn là ở ngoài tự nhiên. Cứ tưởng Việt Nam có nhiều loại hoa đào, nhưng thực ra Việt Nam có rất ít loại hoa đào nếu so với các nước khác. Hay là xuân hết lại viết về đào.

Photobucket

Sunday, April 19, 2009

Lệ đường

Photobucket

Tôi tình cờ trông thấy hoa này ở vườn một ngôi nhà và chụp trộm qua hàng rào. Hoa lệ đường hay còn gọi là hoa hồng Nhật (kerria japonica) hay "sơn xuy". Hoa thưởng nở vào dịp Phục Sinh nên còn có tên gọi hoa hồng Phục Sinh. Nhưng tôi thích cái tên "lệ đường" hơn cả, bởi vì tên này khiến tôi nghĩ tới một vẻ đẹp đường lệ (thực ra 2 chữ "lệ đường" này không có liên quan gì tới "đường lệ" vẻ đẹp, nhưng tôi lại liên tưởng như vậy). Hoa có màu vàng rực rỡ, trông giống thược dược hay mẫu đơn hơn là hoa hồng.

Quảng quần phương phổ có chép bài thơ Đạo bàng lệ đường hoa, Hoa lệ đường bên đường của Phạm Thành Đại:

Sạ tình phương thảo cạnh hoài tân
Thùy chủng u hoa cách lộ trần
Lục địa lũ kim la kết đái
Vị thùy khai phóng khả liên xuân

Tôi dịch thành thơ như sau:

Cỏ thơm mưa tạnh nhớ vô ngần
Nào giống u hoa lánh bụi trần
Đất dệt tơ vàng nên dải lụa
Vì ai mà nở đáng thương xuân

Lệ đường nở hoa là mùa xuân hết.

Photobucket

Saturday, April 11, 2009

Hoa thu

Photobucket

Không phải là hoa mùa thu. Cây hoa này mang tên thu (thu tử hay thu thụ), đồng âm với mùa thu, nhưng thuộc bộ mộc. Cây hoa này cũng thuộc chi malus (malus prunifolia), nên có thể gọi là hải đường. Hoa này khác hoa hải đường (malus halliana), vẻ đẹp Dương Quý Phi, ở chỗ cánh hoa cứng cáp, hoa không rủ xuống đất và khi nở rộ chỉ hơi phơn phớt hồng, không được hồng thắm bằng hải đường. Tôi không muốn gọi bằng hải đường cho khỏi lẫn lộn các hoa với nhau.

Quảng quần phương phổ có hai nhược điểm lớn: không có ảnh hay hình vẽ minh họa và không có tên khoa học cho các loại cây. Cả hai nhược điểm này đều dễ hiểu vì thưở xa xưa đấy người Trung Quốc chưa biết tên khoa học cũng như chụp ảnh. Quảng quần phương phổ miêu tả các loại cây căn cứ vào các sách vở về cây cỏ như Bản thảo.

Đây là một bài thơ trong chùm bài Tam tuyệt cú của Đỗ Phủ, chép trong Quảng quần phương phổ về cây thu:

Thu thụ hinh hương ỷ điếu ki
Trảm tân hoa nhị vị ưng phi
Bất như túy lý phong xuy tận
Khả nhẫn tỉnh thì vũ đả hi

Tôi dịch thành thơ như sau:

Thơm ngát cây thu tựa đập câu
Loạt hoa mới nở chẳng bay đâu
Giá như gió cuốn khi say khướt
Hơn nỡ mưa vùi lúc tỉnh thâu

Đỗ Phủ rất hiểu người ngắm hoa. Thà hoa bị gió thổi bay đi sạch khi mình còn đang say túy lúy, còn hơn để lúc tỉnh nhìn hoa bị mưa vùi dập tan tành. Say dưới gốc hoa có lẽ cũng là một thú tao nhã mà tôi chưa được tận hưởng. Người xưa có những niềm tận hưởng thật thú vị. Xử thế nhược đại mộng / Hồ vi lao kỳ sinh, Cuộc đời như một giấc mộng lớn, việc gì phải vất vả cuộc đời. Giá mà vác được laptop ra dưới gốc hoa ngồi làm việc thì hay biết mấy.

Photobucket

Anh đào cánh kép


Đây là hoa anh đào cánh kép màu hồng, có tên là "quan sơn". Anh đào quan sơn trông rất giống hoa đào ở Việt Nam. Điểm khác biệt là anh đào hoa mọc thành chùm và có cuống hoa dài. Cũng có loại màu trắng, thực ra là trắng hơi hơi phớt hồng, gọi là anh đào tùng nguyệt. Có lẽ hoa trông giống như mặt trăng trên cây tùng. Loại anh đào mọc thành chùm trông như một vòng tròn hay một vòng cung. Anh đào cánh kép nở là dấu hiệu mùa xuân sắp cạn ngày. Ở Việt Nam dùng hoa xoan rụng để tính mùa xuân. Bây giờ cũng không thấy mấy hoa xoan. Làm sao để biết xuân sắp hết ?


Photobucket Photobucket

Thursday, April 9, 2009

Thanh bình nhạc

Photobucket

Khi viết về hải đường tôi có chợt nhớ tới một câu thơ trong bài Thanh bình nhạc của Lý Bạch. Thanh bình nhạc là chùm ba bài thơ theo thể tuyệt cú của Lý Bạch được cho là viết về Dương Quý Phi. Đây là bài thứ hai trong chùm thơ này:

Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang

Tôi dịch bài thơ này như sau:

Một cành hồng thắm đượm hương sương
Non Giáp mây mưa uổng đoạn trường
Thử hỏi Hán cung ai được thế
Điểm trang Phi Yến thấy mà thương

Nghe nói đến Dương Ngọc Hoàn quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Quốc thay đổi. Trước đấy, người đẹp là người mảnh mai, nhỏ nhắn, yểu điệu, như Triệu Phi Yến nhà Hán. Đến Dương Ngọc Hoàn người đẹp là người mỹ miều, phơi phới, nồng thắm. Lý Bạch cùng thời với Dương Ngọc Hoàn, lại từng được tiếp kiến, nên miêu tả của ông, tuy mang tính ước lệ, nhưng hẳn là chân thực.

Không biết tại sao thơ ca cổ điển của Việt Nam không thấy nói đến người đẹp. Thử kể tên mười mỹ nhân Việt Nam trong lịch sử thật là khó khăn. Ngay cả chỉ cần kể tên bốn mỹ nhân Việt Nam cũng không dễ. Đặng Thị Huệ đẹp như thế nào khó mà tường tận, dù chỉ là ước lệ kiểu như "phù dung như diện, liễu như mi". Ỷ Lan có đẹp không cũng khó mà biết. Huyền Trân ra sao chẳng biết có ai hay không. Do vậy thật khó mà biết thẩm mỹ về cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử như thế nào. Không biết là do phụ nữ Việt Nam không thực đẹp để tạo cảm hứng thi ca, hay đàn ông Việt Nam "buồn thiu" không có cảm hứng về cái đẹp?

Chuyện xa xưa khó mà biết được. Còn hôm nay thì sao? Năm nào Việt Nam cũng có hoa hậu các kiểu. Nhưng quả thực, ngắm hoa hậu Việt Nam, bản thân tôi tuy không phải là người làm thơ nhưng thử tưởng tượng mình làm được thơ, cũng thấy không có thi hứng. Thật khó mà hạ bút viết được những câu như "nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương". Không phải vì không có tài như Lý Bạch, mà bởi vì ngắm các hoa hậu Việt Nam không thể nào có hứng để viết được như vậy.


Wednesday, April 8, 2009

Hải đường

Photobucket


Hải đường này là loại hải đường thuộc chi Malus, khác với hải đường Nhật bản thuộc chi Chaenomeles. Thoạt nhìn có thể tưởng đây là anh đào. Cũng hoa thành chùm và cuống dài. Nhưng anh đào lại thuộc chi Prunus. Có một cách phân biệt đơn giản: anh đào ra hoa trước khi có lá, hoa tàn lá mới ra, còn hải đường có lá mới có hoa, và hoa thường rủ xuống đất. Hải đường này trông rất đẹp, hoa phơn phớt hồng, không rực rỡ như hoa đào, cánh hoa rất mỏng manh, không chắc chắn như hải đường Nhật.

Mỗi một loài hoa, bên cạnh vẻ đẹp "vật chất" như màu sắc, hình dáng, hương thơm, còn có vẻ đẹp "văn hóa". Vẻ đẹp "văn hóa" của hoa là những câu chuyện, sự tích, truyền thuyết, thi ca về hoa. Ngắm hoa là thưởng ngoạn cả hai vẻ đẹp như vậy của hoa.

Hoa hải đường này thường được ví là vẻ đẹp của Dương Quý Phi. "Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương", một cành hồng thắm đượm hương sương, hẳn là một cành hải đường. Một câu thơ đẹp lạ lùng như vẻ đẹp của hoa vậy. Cái vẻ đẹp này phải tới tay Lý Bạch mới được nên như vậy.

Trong Quảng quần phương phổ có rất nhiều thơ về hải đường. Đây là bài thơ Hải đường của Tô Đông Pha:

Đông phong niệu niệu phiếm sùng quang
Hương vụ phi phi nguyệt chuyển lang
Chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ
Cao thiêu ngân chúc chiếu hồng trang

Tôi dịch thành thơ như sau:

Ánh sáng bồng bềnh dịu gió đông
Sương giăng hương thoảng bóng trăng lồng
Đêm khuya chỉ sợ hoa đi ngủ
Nến bạc khêu cao chiếu đóa hồng

Ngắm hoa là thứ việc có thể thấy không bao giờ chán.

Photobucket

Photobucket

Tuesday, April 7, 2009

Hoa đồng nội

Photobucket

Tôi không biết tiếng Việt gọi hoa này là gì. Có lẽ hoa này ở Việt Nam không có. Tên latin là veronica persica. Tên tiếng Anh là Persian speedwell hay bird's eye. Có lẽ tên gọi "mắt chim" này là do hai cái nhị đen tròn. Hoa này rất nhỏ, đường kính có khi chưa đầy 1cm. Cây mọc lẫn trong cỏ, thuộc loại thân thảo. Một năm hoa chỉ nở một lần, vào cuối xuân. Tôi để ý đến hoa này vì bông hoa chỉ có 4 cánh. Các bông hoa phần lớn đều có tính đối xứng. Nếu không có hai cái nhị đen thì bông hoa này có thể coi thuộc nhóm đối xứng C4v (thực ra có một cánh hoa khác 3 cánh còn lại nhưng cứ giả sử chúng như nhau). Nhưng vì có hai nhị nên tính đối xứng quay hay tâm đối xứng bị phá vỡ, tức là nhóm đối xứng của hoa bị giảm xuống. Ngắm hoa cũng có thể thấy được nhiều điều.

Không biết tên hoa cũng là một điều khó chịu. Người Nhật còn gọi hoa này là lưu ly Đường thảo, tinh đồng. Lưu ly có lẽ là do hoa có màu xanh lơ. Ngọc lưu ly có màu xanh như vậy. Tinh là sao, đồng là con ngươi, cái tên này có lẽ vì do hai cái nhị. Như vậy hoa này có thể có hai cách đặt tên: đặt theo màu sắc, đặt theo đặc điểm của hai cái nhị. Nếu gọi là lưu ly thì lẫn với hoa lưu ly. Còn gọi là lưu ly Đường thảo thì tên dài quá, không thích hợp. Gọi là tinh đồng thì không mấy người hiểu. Người Trung Quốc gọi hoa này theo hai cách: phiên âm tên latin thành "a lạp bá bà bà nạp" (cái tên này không thể ngửi được) và "thủy khổ tục" (cái tên này còn khó hiểu hơn tên của người Nhật). Người Nga phiên âm tên latin thành tên gọi. Hoa này không có trong Quảng quần phương phổ nên không có thơ. Không biết tiếng Việt nên gọi hoa là gì? Mắt chim, lưu ly thảo, lưu ly Ba Tư, song nhãn, điểm nhãn, điểu nhãn? Có khi mỗi một cái tên lại có thể sáng tác ra một sự tích về hoa.

Sunday, April 5, 2009

Anh đào

Photobucket

Không biết tại sao cứ cuối xuân là hàng loạt hoa nở. Cứ như đua nhau, không nở thì thiệt thòi. Bây giờ mới hiểu hoa ghen nhau như thế nào. Yên hoa tam nguyệt có lẽ không phải là sương khói như hoa ở tháng ba. Tháng ba hoa nở như sương khói hai bờ ven sông. Nửa giấc yên hoa cười mộng cũ, tất nhiên hai chữ yên hoa này không phải là hai chữ yên hoa, hoa khói kia.

Hoa anh đào nhiều người nói đến. Đáng tiếc ở Hà Nội anh đào không ra hoa. Chẳng biết khi nào hoa anh đào có thể nở Hà Nội? Quảng quần phương phổ chép anh đào chung cùng quyển với thường lê, thường lệ, thạch lựu, không biết có phải là giống sakura như ở Nhật không. Hoa này nở cả cây thì đẹp, chứ tách từng bông ra thì cũng không đặc sắc.

Quảng quần phương phổ cũng chép nhiều thơ về anh đào. Không biết ở Nhật có quyển nào tương tự như vậy viết về hoa ở Nhật không. Việt Nam thì không rồi. Đây là bài Hòa Bùi bộc xạ khán anh đào hoa, Cùng bộc xạ họ Bùi ngắm hoa anh đào, của Trương Tịch.

Tạc nhật nam viên tân vũ hậu
Anh đào hoa phát cựu chi kha
Thiên minh bất đãi nhân đồng khán
Nhiễu thụ trùng trùng lý tích đa

Người xưa ngắm hoa làm thơ, tôi nay ngắm hoa dịch thơ:

Hôm trước vườn nam mới chớm mưa
Anh đào hoa nở khắp cành xưa
Sớm nay chẳng đợi người cùng ngắm
Chi chít dấu giày kín gốc chưa

Người xưa có những thú vui thật tao nhã. Ngắm trăng, xem hoa, làm thơ, gảy đàn, ca hát. Tất cả đều do tự mình làm. Ngắm hoa cảm hứng thành thơ, rồi độ khúc để hát. Có thể bài thơ mình làm chưa được hay, khúc nhạc chưa được chỉnh, nhưng cảm hứng là của mình, chẳng phải vay mượn ai. Một thời đã chẳng bao giờ còn nữa.

Hoa và thơ như một mối lương duyên. Xem hoa tôi đều cố tìm thơ về hoa. Rất may là có Quảng quần phương phổ nên cũng không mất công. Vừa ngắm hoa vừa đọc thơ cũng là một thú vui.


Photobucket

Friday, April 3, 2009

Đỗ quyên

Photobucket

Đỗ quyên nở hoa vào cuối xuân. Nghe nói khi nào cuốc kêu thì đỗ quyên nở hoa. Hoa đỏ như máu, như tiếng cuốc kêu rỏ máu. Ở Việt Nam đỗ quyên nở hoa cả vào dịp Tết. Như vậy đỗ quyên ở Việt Nam nở khác thời, không đợi cuốc kêu. Hoặc giả Việt Nam không có ai nhớ nước khóc rỏ máu để hoa nở nhớ người. Văn Thiên Tường có câu thơ: "
Tòng kim biệt khước Giang Nam lộ / Hóa tác đề quyên đái huyết quy", Từ nay giã biệt Giang Nam mãi / Hóa cuốc về kêu rỏ máu trường, câu thơ bi hùng.

Quảng quần phương phổ nói rằng đỗ quyên còn có tên là sơn thạch lựu, ánh sơn hồng. Cứ nhớ thạch lựu (giống Phiên) là quả ổi. Không nhớ hoa ổi như thế nào, nhưng chắc chắn không phải màu đỏ. Hoa lựu màu đỏ, nở đầu mùa hè. Chợ vẫn còn bán lựu, nhưng không mấy ai ăn.

Quảng quần phương phổ chép rất nhiều thơ về đỗ quyên. Nhật Bản có tập thơ Đỗ quyên đá, tập hợp các bài tanka về đề tài đồng tính luyến ái. Không rõ có liên quan như thế nào.

Đây là một bài thơ được chép trong Quảng quần phương phổ. Bài thơ của Dương Vạn Lý có tên Đỗ quyên hoa:

Khấp lộ đề hồng tác ma sanh
Khai thì thiên trị đỗ quyên thanh
Đỗ quyên khẩu huyết năng đa thiểu
Khủng thị trưng nhân lệ trích thành

Tôi dịch bài thơ này như sau:

Rỏ máu khóc sương đâu cớ sanh
Nở toàn vào lúc cuốc kêu quanh
Cuốc ra rả máu bao nhiêu đấy
Sợ đúng người đi lệ nhỏ thành

"Khấp lộ" là giọt sương đọng như giọt nước mắt. Lý Hạ có câu thơ: "Phù dung khấp lộ, hương lan tiếu". Giọt sương đậu trên lá sen như giọt nước mắt của hoa sen. "Khấp" là khóc không thành tiếng, "đề" là khóc thành tiếng. Khóc không ra tiếng thì nhỏ lệ, khóc thành tiếng thì thổ ra máu. Giọt sương trên cánh hoa, màu đỏ của hoa như nước mắt rơi, như máu rỏ. Ngắm hoa đỗ quyên mà thấy sợ trong lòng.

Có hoa đỗ quyên màu trắng. Chẳng biết có ý tứ gì không? Chẳng biết có phải vậy mà lẵng hoa đỗ quyên đỏ cài xen đỗ quyên trắng?

Photobucket

Wednesday, April 1, 2009

Táo dại

Photobucket

Đây là hoa táo dại. Tên tiếng Anh thông dụng là Siberian crabapple, táo dại Siberi. Tiền tố crab không hiểu từ đâu mà có, và rất dễ cho rằng nó có liên quan gì đấy tới cua cáy, mặc dù những suy tưởng như vậy là không có cơ sở. Tên tiếng Nga không có gì liên quan tới crab. Hoa này không thơm, hơi hắc. Nếu như vậy thì chẳng có chuyện gì đáng nói.

Cây táo dại này trong tiếng Trung gọi là sơn kinh tử. Cây kinh là cây gì và có lẽ chưa ai dịch cây kinh là cây táo dại. Khi Nguyễn Du ở Huế, ông có viết câu thơ: "Khai song kiến kinh kỷ" và thông thường được dịch là mở cửa sổ ra nhìn thấy gai góc. Nguyễn Du muốn nói thứ cây gì ở Huế? Bụi gai trồng bên song hay là một bụi táo dại?

Bài thơ của Nguyễn Du có tên là Ngẫu thư công quán bích, Tình cờ đề lên bức vách ở công quán. Ngày xưa có vẻ thoải mái viết lên tường quán xá công cộng. Tập tục này không biết đến lúc nào thì bỏ. Ngày nay vô khách sạn viết lên tường chắc dễ bị bắt đền. Bài thơ như sau:

Triêu xan nhất vu phạn
Mộ dục nhất bồn thủy
Bế môn tạ tri giao
Khai song kiến kinh kỷ
Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường
Mỹ nhân du du cách cao tường
Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ
Hồn hề quy lai bi cố hương

Tôi dịch bài thơ này như sau:

Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một chậu nước
Cửa cài giã bạn quen
Song mở nhìn gai góc
Ngoài song gai góc mọc la đà
Người đẹp cách tường vời vợi xa
Một tiếng cuốc kêu xuân đã hết
Hồn ơi về đi thương quê nhà

Bài thơ này có cấu trúc mường tượng như Tiết phụ ngâm. Tiết phụ ngâm là bài ca ly khai sự cám dỗ của phú quý. Mỹ nhân du du cách cao tường lại như hàm ý muốn được trọng dụng. Đó như là một giấc mộng, nơi vẫn còn vương vấn tới quyền quý. Đến khi một tiếng cuốc kêu mới bừng tỉnh giấc mộng ngày xuân. Xuân đã hết. Hồn hề quy lai bi cố hương như một tiếng nấc trong lòng. Trong giấc mộng ngày xuân đó hồn có kịp tỉnh ra khỏi giấc mộng không? Nhưng thực ra hồn và mộng như hai mặt của một tờ giấy. Mộng hết thì hồn cũng không còn.

Người ta thường bảo đêm dài nghe tiếng cuốc kêu không sao ngủ được. Nhưng ngày nay làm gì còn cuốc để mà trằn trọc suốt đêm thâu?

Một bông hoa dại bên đường có thể làm nhớ đến một bài thơ.