Friday, October 31, 2008

Khi quyền lực bị lạm dụng

Câu chuyện trong bộ phim Cuộc sống của những người khác có thể nói được khởi động bằng ham muốn chiếm đoạt một nữ diễn viên kịch của viên Bộ trưởng Bộ Văn hóa Đông Đức. Nữ diễn viên kịch là vợ của nhà soạn kịch, một trí thức Đông Đức. Viên Bộ trưởng nghĩ rằng nhà soạn kịch dễ có tư tưởng thân phương Tây nên đã yêu cầu cơ quan an ninh Đông Đức theo dõi nhà soạn kịch hòng tìm ra chứng cứ để kết tội nhà soạn kịch. Nếu nhà soạn kịch bị bắt, y sẽ dễ dàng gây áp lực và chiếm đoạt được nữ diễn viên. Những bi kịch cuộc đời khởi phát từ đây, từ dục vọng của một quan chức, từ lạm dụng quyền lực của y, từ hành xử không theo luật pháp của cơ quan an ninh. Viên mật vụ, người được giao nhiệm vụ theo dõi nhà soạn kịch, trong một tình thế không liệu trước, đã trỗi dậy thiện tâm và tìm cách bảo vệ gia đình nhà soạn kịch. Những cố gắng của y, rốt cuộc, cũng chỉ bảo vệ được nhà soạn kịch. Nữ diễn viên đã tử nạn trong lúc hốt hoảng chạy ra khỏi nhà khi vừa mới được cơ quan an ninh thả cho về sau khi đã khai hành động của chồng. Thân phận con người trở nên mỏng manh, đầy bất trắc trước những bạo tàn khi quyền lực bị lạm dụng. Kết thúc bộ phim, sau khi nước Đức thống nhất, viên mật vụ bị thất nghiệp, còn tên Bộ trưởng trưởng lại trở thành một doanh nhân thành đạt trong một nước Đức dân chủ và tự do. Số phận của viên mật vụ và tên Bộ trưởng như một mỉa mai của tọa hóa, nhưng lại rất hiện thực. Những con người nhỏ bé thiện tâm luôn chịu thua thiệt trước những kẻ ma quái, khởi nguồn của cái ác. Những kẻ ma quái đó luôn thoát khỏi sự trừng phạt của công lý, và chúng cũng không bao giờ bị lương tâm cắn rứt vì lương tâm đâu có ở nơi những kẻ như vậy.

Tôi lại nhớ tới bộ phim Cuộc sống của những người khác nhân chuyện Ban biên tập báo Đại đoàn kết bị cắt chức. Trong một bức thư phổ biến trên mạng, Tổng Biên tập báo Đại đoàn kết từng tố cáo ông Hồng Vinh, phó ban Tuyên giáo, từng cản trở báo chí đăng tin vụ hiếp dâm trẻ em của Lương Quốc Dũng, một quan chức cao cấp của Tổng cục Thể thao. Đây là một ví dụ rất điển hình của lạm dụng quyền lực. Một quyền lực khi không có kiểm soát luôn bị những kẻ ma quái lợi dụng trong những ý đồ và tham vọng riêng của chúng. Công lý trong một chừng mực nào đó, lại không thể động tới chúng. Chỉ có công luận may ra mới làm cho chúng phải e dè. Phải làm cho chúng, con cháu của chúng cảm thấy nhục nhã vì hành vi của cha ông mình. Phải làm cho chúng, con cháu của chúng thấy xấu hổ khi giơ mặt với đời.

Tôi nhớ tới thời của Khổng tử. Đó là thời kỳ loạn lạc, luân lý chao đảo, cương thường mục nát. Khổng tử từng phải than thở: Thái sơn kỳ đồi hồ, lương mộc kỳ hoại hồ, triết nhân kỳ nuy hồ. Núi Thái sơn đã sụt rồi, cây gỗ rường cột đã mục nát rồi, người trí thức đã nguy rồi. Ba tiếng "đồi hồ", "hoại hồ", "nuy hồ" như ba tiếng nấc cụt trong cõi lòng của Khổng tử.

Tuesday, October 28, 2008

14 chứng nan y của Ban Tuyên Huấn TƯ

14 chứng nan y của Ban Tuyên huấn Trung ương là một phần trong bài viết Thảo phạt Ban Tuyên huấn Trung Ương của ông Tiêu Quốc Tiêu, GS Đại học Bắc Kinh. Bản dịch của Nguyễn Thành Tiến, lưu tại Talawas. Ban Tuyên huấn Trung ương Việt Nam qua vụ việc của ông Hồng Vinh và Trịnh Đình Khôi cũng cho thấy đã có những chứng bệnh trong người. Cơ chế nào để kiểm soát Ban Tuyên huấn, bởi vì nếu một quyền lực không có kiểm soát sẽ là một quyền lực tha hóa.

14 chứng nan y của Ban Tuyên Huấn TƯ

Thứ nhất: Dùng phép phù thủy làm phương pháp công tác

Hôm nay không được nêu vụ Tưởng Ngạn Vĩnh, ngày mai không được nhắc lại vụ dịch SARS, ngày kia cấm đăng việc này việc nọ, không được nói báo chí là “công cụ xã hội”... đại loại như vậy. Thử hỏi những lệnh cấm ấy của Ban Tuyên Huấn TƯ là từ đâu và do đâu? những cái “không được” của họ là vô căn cứ, hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính áp đặt, chúng không dựa theo một chuẩn mực cơ bản nào của văn minh nhân loại cả, mà trái với những kiến thức khoa học cơ bản.

Thứ hai: Vận dụng uy quyền của giáo hội La Mã

Nói đúng ra thì Ban Tuyên Huấn TƯ hiện tại chẳng khác gì Giáo hội La Mã hồi Trung cổ: Quyền lực đầy mình, độc ác và đẫm máu; kẻ nào chống lại thì ít nhất cũng phải chịu “sứt đầu mẻ trán”, nếu như không bị voi giày cọp xé. Báo chí giám sát chỗ này chỗ nọ nhưng đâu dám giám sát Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xử lí biết bao phóng viên, tổng biên tập nhưng nào có mấy ai dám ho he? Lẽ nào họ xử đúng cả? Hiện nay các Bộ và Ban Ngành của Chính phủ đều hoạt động đúng luật, tuy mức độ chấp hành pháp luật có khác nhau nhưng dù sao thì cũng có luật để mà theo; còn Ban Tuyên Huấn TƯ ra lệnh thì chẳng theo luật nào cả. Như vậy ở Trung Quốc duy nhất chỉ có Ban Tuyên Huấn TƯ là hoạt động không theo luật, họ là “vương quốc tối tăm” mà ánh sáng của “mặt trời pháp luật” không chiếu tới.

Thứ ba: Đơn giản chữ viết theo kiểu Nhật

Trong lịch sử, việc đơn giản chữ viết ở Nhật Bản đã từng xâm nhập vào Trung Quốc, biến “xâm nhập” thành “tiến xuất”. Ban Tuyên Huấn TƯ không coi đó là điều bất cập, mà bảo không nên nhắc lại cái sai của lịch sử. Những cụm từ gợi lại nỗi đau của đất nước như: “cuộc đấu tranh chống hữu khuynh”, “cách mạng văn hoá”, “sự kiện Thiên An Môn (1989)”, “hàng chục triệu nông dân chết đói”… đều là những cụm từ nên tránh sử dụng. Tất cả những cái đó khiến cho báo giới và các nhà học thuật không thể nào chấp nhận được còn dân chúng thì cảm thấy đau lòng, tuyệt vọng.

Thứ tư: Sát thủ của Hiến pháp

Tự do ngôn luận (báo chí-xuất bản) là quyền được Hiến pháp nước CHND Trung Hoa bảo hộ. Theo đạo lý thì Ban Tuyên Huấn TƯ đã là cơ quan tuyên truyền của ĐCS Trung Quốc thì phải là người bảo vệ quyền tự do ngôn luận ấy. Nhưng trên thực tế họ lại là kẻ xâm hại nặng nề nhất quyền tự do ngôn luận. Họ đã dùng trăm phương ngàn kế chà đạp lên quyền tự do ấy. Cho nên, muốn bảo vệ Hiến pháp thì không thể không “thảo phạt” Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ năm: Phản bội lý tưởng cao cả của ĐCS Trung Quốc

Những năm 40 của thế kỷ XX, thời kỳ đấu tranh chống chế độ chuyên chế Quốc dân đảng là thời kỳ vẻ vang huy hoàng nhất của ĐCS Trung Quốc. Vậy mà học giả Tiếu Tú tập hợp lại những bài xã luận đã đăng trên “Tân Hoa nhật báo” Trùng Khánh, “Giải phóng nhật báo” Diên An… phát hành trong thời kỳ đó để in thành sách “Những tiếng nói đầu tiên của lịch sử” thì lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán. Những tiếng nói tự do dân chủ trong thời kỳ đó đối với Trung Quốc là rất có ý nghĩa, chúng đại biểu cho những bài viết có phương hướng văn hoá tiến bộ, vậy mà nay lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm xuất bản, thì cũng đủ chứng tỏ họ là kẻ thù của lý tưởng ban đầu của ĐCS Trung Quốc rồi.

Thứ sáu: Truyền bá tư duy chiến tranh Lạnh

Câu nói bất hủ của Mao: “Phàm là những gì kẻ thù phản đối thì ta ủng hộ, phàm là những gì kẻ thù ủng hộ thì ta phản đối” đến nay vẫn là phương châm được Ban Tuyên Huấn TƯ vận dụng để chỉ đạo báo chí tuyên truyền và coi đó là “kim chỉ nam” cho hành động.

Thứ bảy: Cắt xén, cản trở thực hiện tinh thần chỉ đạo của Trung ương chứ không phải quán triệt tinh thần ấy

Có một số đồng chí nhà báo thường lên Ban Tuyên Huấn TƯ để “lãnh chỉ” hoặc nghe huấn thị đã phát biểu: Một khi anh đã lên Ban Tuyên Huấn TƯ nghe huấn thị thì anh sẽ cảm thấy tình hình Trung Quốc rối tung rối mù, rất nghiêm trọng, trái hẳn với tinh thần của Trung ương; anh sẽ biến thành kẻ đầu têu cắt xén, cản trở, phủ định, thậm chí chống lại tinh thần của Trung ương. Những người gây ra chuyện đó không phải là Đài Loan, Hồng Kông; không phải là bọn tham nhũng hay phần tử hải ngoại “vận động dân chủ” và thân nhân của những người tử nạn trong “sự kiện Thiên An Môn” mà chính là Ban Tuyên Huấn TƯ của ĐCS Trung Quốc.

Thứ tám: Bệnh “Máu lạnh và nhược trí”

Ban Tuyên Huấn TƯ thậm chí đã chỉ trích báo chí thông tin về nỗi oan khuất của quần chúng. Phản ảnh việc nhân dân gửi đơn hoặc đi khiếu nại tố cáo thì sao có thể coi là gây mất ổn định xã hội cơ chứ? Không phản ảnh, để tích tụ lâu ngày mới là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội. Hàng ngày, phải đối mặt với những nỗi oan chồng chất của nhân dân, họ không những không động lòng mà còn trách báo chí phản ảnh thái quá thì quả là hạng người có trái tim đá và dòng máu lạnh! So với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, những người đi khiếu nại tố cáo chỉ là thiểu số thì làm sao có thể gây mất ổn định xã hội kia chứ? Huống hồ, 80-90% trong số đó đều là những người hiền lành, chứ những kẻ cơ hội quá khích thì căn bản không làm như vậy. Những lời chỉ trích của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ chẳng bao giờ giải quyết được tận gốc nạn khiếu kiện.

Thứ chín: Chỗ dựa cho kẻ bạo tàn, hư hỏng

Năm ngoái, giới báo chí đều nhận được 25 điều chỉ thị “không được đăng báo” do Ban Tuyên Huấn TƯ “phùng mang trợn mắt” phun ra. Trong đó có “không được đăng” vụ Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy Vân Nam bị “song quy” (theo chỉ thị của Trung ương, những cán bộ “có vấn đề” đều phải được làm rõ trong một thời hạn và tại một địa điểm quy định). Tại sao không được đăng báo? Điều “không được đăng” này làm cho báo giới cả nước lấy làm tiếc, còn kẻ hư hỏng thở phào nhẹ nhõm. Đúng là “Hoà thượng che ô, vô pháp vô thiên!” Thử hỏi tất cả những người coi trọng chính nghĩa rằng như vậy có chịu nổi không?

Thứ mười: “Ăn quả quên người trồng cây”

Báo giới được Ban Tuyên Huấn TƯ quản lý chặt như bó giò, cứ tưởng họ sẽ bảo vệ mình nhưng không ít nhà báo bị trù dập mà không thấy họ nâng đỡ hoặc lên tiếng. Họ có vô số biện pháp để quản lý, uốn nắn nhà báo nhưng khi nhà báo bị hàm oan, muốn được họ giúp đỡ, minh oan thì họ rụt đầu lại chẳng khác gì một con rùa!

Thứ mười một: Ra vẻ quý tộc nhưng là nô lệ của đồng tiền.

Họ luôn tùy tiện ngăn cản báo chí thực hiện chức năng giám sát bằng dư luận bởi một tiếng “ngừng” với một lý do đàng hoàng là “tránh gây mất ổn định xã hội”. Nhưng trong nhiều trường hợp, đó là cuộc trao đổi giữa quyền và tiền, là dùng quyền lực để thu “tô”, là được kẻ xấu nhờ vả. Họ mượn quyền quản lý báo chí được Đảng và Nhà nước giao phó nhằm làm giảm bớt tai họa để trục lợi cá nhân. Như vậy, mỗi lần ngăn cản báo chí đưa tin là một lần họ dung túng cho một hoặc nhiều kẻ xấu, một lần duy trì tai họa. Họ bán rẻ hình tượng của Đảng và Nhà nước để đổi lấy những lợi ích phi pháp.

Thứ mười hai: Kẻ thù ghét những người tài đức, ai tỏ ra vượt trội thì “diệt”, ai ủng hộ chính nghĩa thì “chôn sống”

Hiện nay ở Trung Quốc không có loại sách bán chạy, nếu có cuốn nào bán chạy thì lập tức bị Ban Tuyên Huấn TƯ “đốt” ngay. Họ luôn có lý do đàng hoàng mà lòng dạ thì vô cùng đen tối. Cấm một cuốn sách hay, bán chạy là bóp ngẹt sức sáng tạo của dân tộc Trung Hoa. “Bịt miệng” được một nhà báo, một học giả hay một tờ báo tâm huyết với chính nghĩa là làm nhụt chí khí của xã hội Trung Quốc. Sở dĩ hiện tại ở Trung Quốc tinh thần sáng tạo cạn kiệt, đạo đức suy đồi, chính nghĩa co cụm, ác bá hoành hành, chính khí lụn bại… thì 99% là trách nhiệm của Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ mười ba: Nhân vật thứ 2 tạo ra hiểm họa khiến quần thể suy yếu

Tại sao người lao động bị nợ lương triền miên mà chỉ có Thủ tướng Ôn Gia Bảo ra tay thì mới được giải quyết? Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán báo chí thông tin, việc nợ lương không lọt vào tầm mắt quốc dân thì giải quyết sao được? Tại sao việc dân khiếu kiện kéo dài hàng chục năm không dứt? Tại Ban Tuyên Huấn TƯ che đậy tội ác. Những điều bất cập trong công tác kế hoạch hoá dân số vẫn tiếp tục tái diễn do báo chí không được phép thông tin. Kẻ xấu không sợ quan chức mà chỉ sợ đạo đức chính trị và đạo đức xã hội. Báo chí Trung Quốc vốn có thể làm một vạn điều tốt cho dân, hạn chế đều là tai họa; chỉ tại Ban Tuyên Huấn TƯ ngu muội, lạc hậu trong phương thức tư duy và bá đạo, võ đoán trong cách làm việc nên đã cấm đoán hết 9999 điều.

Thứ mười bốn: Ban Tuyên Huấn TƯ biến Tổng biên tập các cơ quan báo chí thành những người vô cảm, phi chính nghĩa và thiếu văn hoá

Mỗi lần nghe họ giáo huấn xong, người ta thấy mình như vừa thoát nạn, bởi dường như họ đang lội ngược dòng thời đại. Nhìn bề ngoài, các Tổng biên tập thấy mình vẫn còn nguyên vẹn nhưng nội tâm đã bị tổn thương rất nhiều. Những lời giáo huấn của các Tổng biên tập đã làm tổn thương hoàn toàn khả năng chống vô cảm, sự đồng cảm với chính nghĩa và văn minh của họ. Gây ra sự vô cảm là tai họa lớn nhất thế giới; chà đạp lên sự đồng cảm với chính nghĩa là sự chà đạp tàn bạo nhất thế giới.



Friday, October 24, 2008

Cuộc sống của những người khác

Trong bộ phim Cuộc sống của những người khác, một nhân vật trong phim, người đã tặng bản sonata dành cho một con người tốt cho nhân vật chính của bộ phim, đã tự tử. Cái chết của ông đã tác động rất nhiều đến nhân vật chính. Ông tự tử bởi vì ông nhận ra rằng mình bị theo dõi và nằm trong danh sách đen của cơ quan an ninh Stasi. Có thể hành động của ông trở nên khó hiểu với nhiều người. Tình thế của ông không phải là tình thế tuyệt vọng. Cho dù có bị theo dõi, có bị nằm trong danh sách đen, nhưng nếu mình không có làm gì thẹn với lòng thì đâu đến nỗi tuyệt vọng phải tự tử. Đáng hổ thẹn không phải là ông mà là những người theo dõi ông, những người lập ra bảng danh sách đen. Vậy tại sao ông lại tự tử?

Phẩm giá con người là một giá trị phổ quát của nhân loại. Con người sở dĩ là con người vì do có những phẩm giá của mình. Một khi phẩm giá con người bị xâm phạm, lại không có cơ hội hay điều kiện để bảo vệ phẩm giá của mình, con người chỉ còn cách dùng cái chết của mình để giữ lại phẩm giá con người cho mình. Khi bị theo dõi, cuộc sống riêng tư bị xâm phạm, phẩm giá con người cũng bị xúc phạm theo. Một motif quen thuộc thường thấy trong các tác phẩm nghệ thuật là người ta theo dõi anh ngay cả trong phòng ngủ. Trong tiểu thuyết Lâu đài của Kafka, lần làm tình đầu tiên giữa K. và Freida diễn ra dưới sự chứng kiến của hai tên giúp việc. Hai tên giúp việc đã lẵng nhẵng theo K. ở khắp mọi nơi. Hai tên giúp việc chính là hình tượng của những kẻ theo dõi. Trong bộ phim Cuộc sống của những người khác, người ta cũng theo dõi nhà soạn kịch ngay cả trong phòng ngủ. Trong một cuộc đối thoại giữa hai viên mật vụ nghe lén nhà soạn kịch trong phim, một viên mật vụ đã nói đùa: những người trí thức làm tình có khác gì với những người bình thường không. Làm tình là một ẩn dụ của cuộc sống riêng tư, của phẩm giá con người. Một nhân vật trong tiểu thuyết Phong nhũ phì đồn của Mạc Ngôn có một ước vọng là được ngủ với một nữ đảng viên. Y đã biết hết mùi vị các loại đàn bà, nhưng mùi vị của một đảng viên như thế nào thì y chưa biết. Niềm mong ước của y chính là câu hỏi khi là đảng viên phẩm giá con người có bị thay đổi không và nếu có thay đổi thì thay đổi như thế nào. Xâm phạm cuộc sống riêng tư của con người dường như là một khám phá lớn của thời hiện đại, cái thời như là một điều mỉa mai cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết. Nhân danh con người, nhân danh cuộc sống của những người khác, người ta hủy hoại và xâm phạm cuộc sống riêng tư cũng của những con người. Trong những xâm phạm đấy, phẩm giá con người đã bị dày xéo và người ta không biết làm gì để có thể bảo vệ phẩm giá của mình ngoài cái chết. Cái chết như một tất yếu của thân phận con người.

Cuộc sống của những kẻ theo dõi chung cuộc rồi sẽ ra sao? Dường như văn học và nghệ thuật chưa khai phá những đối tượng này. Viên mật vụ trong bộ phim Cuộc sống của những người khác trở nên thất nghiệp và đi phát thư, báo. Đó không phải là một khám phá nghệ thuật, mà là một phản ánh hiện thực. Nước Đức sau khi thống nhất đã cấm vĩnh viễn những người cộng tác với cơ quan an ninh làm việc trong cơ quan của chính phủ. Hai viên giúp việc trong tiểu thuyết Lâu đài của Kafka lại trở thành những người bình thường. Cuộc sống của những kẻ theo dõi cũng là cuộc sống của những con người. Không phải điều gì chờ đợi họ ở ngày phán xét cuối cùng là quan trọng, mà cái quan trọng là khi xâm phạm cuộc sống riêng tư của những người khác, cuộc sống của chính bản thân họ sẽ ra sao, biến đổi như thế nào. Viên mật vụ trong bộ phim Cuộc sống của những người khác sống một cuộc sống cô quạnh. Nỗi cô đơn của y ngay cả trong đời sống tình dục. Một ả gái điếm đã không sẵn sàng ở lại với y trong một đêm dù y đã yêu cầu. Ai lại gọi ả giữa đêm hôm khuya khoắt thế, câu hỏi của viên mật vụ tựa như câu hỏi cho chính bản thân y.

Âm mưu và tình yêu

VTV1 vừa truyền hình trực tiếp vở kịch Âm mưu và tình yêu do đoàn kịch Tuổi trẻ trình diễn. Tôi xem qua mạng nên có những đoạn bị đứt. Đây là một vở kịch kinh điển của thế giới. Vở kịch được dàn dựng theo lối cổ điển nhưng đã không bám sát theo nguyên tác. Một số màn trong vở kịch đã bị lược bỏ. Chính vì sự lược bỏ mà phần "âm mưu" đã không được thể hiện hết trong vở diễn. Đoạn kết của vở kịch được dựng theo kiểu kết thúc của một bi kịch cổ điển, không có sám hối, tha thứ và trừng phạt như trong nguyên tác. Có thể thấy nhận thấy qua màn diễn, bản dịch của Nguyễn Đình Nghi được dịch từ tiếng Pháp. Tên một người được nhắc tới trong vở kịch được phát âm là "đờ Bốc". Tiếng Đức không gắn danh hiệu quý tộc với "đờ" mà là với "phôn", von Bock.

Dấu ấn của đạo diễn lên vở kịch quá mờ nhạt. Dường như không thấy có một chút sáng tạo nào của đạo diễn. So với vở Macbeth cũng do đạo diễn Lê Hùng dàn dựng mấy năm trước thì vở diễn lần này là một sự thụt lùi về phong cách đạo diễn. Trong các vai diễn chỉ có diễn viên Anh Tú là diễn tốt, thể hiện rất tốt vai viên thủ tướng một con người tham vọng và mưu mô chính trị. Lê Khanh diễn quá tẻ nhạt. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao với diễn xuất quá tầm thường, Lê Khanh luôn được nhận những danh hiệu cao quý và đằng sau những danh hiệu đấy có "âm mưu và tình yêu" gì không? Nhưng nhìn chung các diễn viên của đoàn Tuổi trẻ có đài từ tốt, tốt hơn hẳn đoàn kịch Trung ương mà có lần tôi được xem họ diễn vở Hedda Gabler của Ibsen với cách phát âm tên người nước ngoài kinh khủng luôn. Không hiểu sao Luise cứ bị phát âm thành Lui-i như tên vua Pháp.

Dường như cách dựng kịch ở Việt Nam vẫn còn mang phong cách cổ điển và chưa có những sáng tạo hiện đại. Tôi tra trên youtube được một đoạn giới thiệu vở Âm mưu và tình yêu của nhà hát kịch quốc gia Weimar của Đức. Tuy chỉ là đoạn giới thiệu nhưng có thể cảm nhận thấy một phong cách dựng kịch hoàn toàn khác, đầy chất thơ, bi kịch giữa âm mưu và tình yêu nhưng cũng rất hiện đại.

Một thời đạn bom, một thời hòa bình

Tôi không có ký ức về chiến tranh. Ngay cả ký ức về chiến tranh biên giới năm 1979 cũng không có, mặc dù không khí chiến tranh lúc bấy giờ tôi đã cảm nhận được. Nhưng xem những thước phim tài liệu về những năm tháng chiến tranh tôi thường có cảm giác kỳ lạ tựa như ký ức từ đâu đó ập về.

Nước Pháp vừa mới trình chiếu một phim tài liệu quay ở Việt Nam năm 1968 (phần 1, phần 2), mà trong đấy có đoạn phỏng vấn tù binh McCain ở bệnh viện Bạch Mai. Đoạn phỏng vấn này đối với tôi chẳng có ý nghĩa gì. Giá trị của bộ phim là những cảnh quanh Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thưở bấy giờ. Một Hà Nội trong bom đạn, trong đổ nát. Một Hà Nội trong không khí của cuộc chiến tranh. Những khoảnh khắc im lặng của chiến tranh thật kỳ lạ. Cái khoảnh khắc giữa những lần máy bay ném bom, giọng phát thanh viên "Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội 50 km" như khơi dậy từ giếng sâu ký ức một quá khứ như xa lạ mà gần gũi thân thuộc. Có ai hiểu được hai chữ tự do bằng chính những người đã trải qua dưới bom rơi đạn nổ đấy. Có ai quý được hai chữ tự do bằng chính những người đã phải trả bằng máu mới có được tự do. Những tư biện về tự do tách rời khỏi lịch sử và hiện thực chỉ là những thứ tự do sách vở, tự mê hoặc mình, tự mình làm ngu mình.

Nghĩ về chiến tranh tôi càng cảm nhận được hai câu thơ của một vị vua đời Trần "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu". Không biết đến tới những nhọc nhằn mà đến ngựa đá cũng phải trải qua, không nghĩ tới non sông muôn thưở, làm sao có thể luận bàn về tự do?

Sunday, October 19, 2008

Nhất dĩ quán chi

Khi được hỏi đạo của mình như thế nào, Khổng tử trả lời: ngô đạo nhất dĩ quán chi (đạo của ta là một mà xuyên suốt). Không lo có người không hiểu mình, không lo đạo của mình không quảng phát, chỉ lo chưa trau dồi được đạo, đấy là Khổng tử. Giữ vững một quan điểm làm phương châm xuyên suốt cho tất cả mọi hành động, không a dua với đời, không xa lánh đời, hòa với đời nhưng không đồng nhất với đời. Bất kể tinh thần thời đại vận động theo kiểu gì, bất kể nó biến đổi như thế nào, chỉ cần dùng một quan điểm để xuyên suốt tất cả những thay đổi đấy.

Khổng tử nói rằng người quân tử ở trong thiên hạ không chủ trương phải thế này hay không phải thế khác, chỉ hợp nghĩa thì làm. Cái một của Khổng tử, cái nghĩa của Khổng tử là chính danh. Bất luận sự vật là gì chỉ cần làm sao để danh và vật là một.


Saturday, October 18, 2008

Thay đổi quan điểm trong ký ức lịch sử cá nhân

Tôi đang nghĩ về Kundera. Những chuyện xảy ra chung quanh khiến tôi lại nhớ đến ông. Không phải chỉ vì chuyện chỉ điểm, chuyện mật vụ. Qua những trang sách ông viết tôi như nhin thấy hiện tại. Những người thay đổi quan điểm để phù hợp với tinh thần thời đại, cái tinh thần mà trong sự vận động của nó cũng luôn thay đổi. Kundera đặt câu hỏi: "họ có nhớ những thái độ trước đây của họ không? Họ có giữ lại trong ký ức lịch sử những sự thay đổi của mình không?" Câu trả lời có thể của họ sẽ là gì? Là trẻ con trong quá khứ nên chưa nhận thức đầy đủ? Là một tập thể như vậy trong quá khứ? [Lúc đấy ai cũng như vậy] Là thân phận con người? "Họ thay đổi không phải để đến gần hơn một điều gì đó cốt yếu trong cái tôi của họ, mà để hòa lẫn với những người khác; sự thay đổi của họ cho phép họ giữ mình không thay đổi." Thực sự họ không còn phải là con người bởi vì khi hòa lẫn vào những người khác, họ đã đánh mất cá tính của họ, cái cá tính mà chỉ con người mới có. "Một hôm một ý nghĩ ghê người chợt đến với tôi: hay là những sự phẫn nộ ấy không phải do một thứ tự do nội tại, một sự dũng cảm, mà là do ý muốn làm vui lòng cái tòa án kia, trong bóng tối, nó đã đang chuẩn bị các phiên xử đại hình của nó?"

Thay đổi quan điểm nhân danh sự hòa giải với tinh thần thời đại

[...]

Tôi có thể kể một lô những chuyện như vậy. Những sự thay đổi quan điểm đó không chỉ nằm trong chuyện chính trị, mà cả trong các thói tục nói chung, nào chủ nghĩa nữ quyền thoạt tiên đi lên rồi lại đi xuống, nào ca ngợi rồi khinh rẻ đối với "tiểu thuyết mới", chủ nghĩa thánh giáo cách mạng được thay thế bằng chủ nghĩa khiêu dâm tự do vô chính phủ, ý tưởng về châu Âu bị coi là phản động và thực dân kiểu mới bởi những người sau đó lại dương nó lên như một ngọn cờ của tiến bộ, v.v. Và tôi tự hỏi: họ có nhớ những thái độ trước đây của họ không? Họ có giữ lại trong ký ức lịch sử những sự thay đổi của mình không? Không phải tôi bất bình vì thấy họ thay đổi quan điểm. Bézoukhov, người hâm mộ Napoléon ngày trước, về sau đã trở thành kẻ muốn hạ sát ông ta, và trong cả hai trường hợp đối với tôi anh đều đáng mến. Một người phụ nữ đã từng sùng bái Lênin năm 1971 đến năm 1991 có quyền vui mừng vì thành phố Léningrad không còn là Léningrad nữa không? Ðương nhiên, bà có quyền. Tuy nhiên, sự thay đổi của bà khác với sự thay đổi của Bézoukhov.

Chính xác là khi thế giới nội tâm của họ biến đổi mà Bézoukhov hay Bolkonsky tự xác định mình là những cá thể; mà họ khiến ta kinh ngạc; mà họ trở nên khác biệt; mà tự do của họ bùng cháy lên, và cùng với nó, là bản sắc của cái tôi của họ; đấy là những khoảnh khắc thơ: họ sống những khoảnh khắc đó với một cường độ lớn cho đến nỗi toàn bộ thế giới chạy ùa đến cùng họ với cả một đám rước say sưa những chi tiết huyền diệu. ở Tolstoi, con người càng là chính mình hơn khi anh ta có đủ sức mạnh, đủ sự phóng túng, đủ trí thông minh để mà thay đổi.

Trái lại, những người tôi thấy thay đổi thái độ đối với Lênin, với châu Âu v.v tự phơi bày mình ra trong sự phi cá thể của họ. Sự thay đổi đó không phải là sáng tạo của họ, cũng chẳng phải là phát minh, là ý thích thất thường, là điều bất ngờ, là suy tưởng, là sự điên rồ của họ; nó không có chất thơ; nó chỉ là một sự sửa lại cho khớp với tinh thần hay biến đổi của lịch sử. Chính vì vậy mà họ thậm chí không nhận ra nó; rốt cục, họ bao giờ cũng nguyên như vậy: bao giờ cũng đúng, bao giờ cũng suy nghĩ cái mà, trong môi trường của họ, cần phải suy nghĩ; họ thay đổi không phải để đến gần hơn một điều gì đó cốt yếu trong cái tôi của họ, mà để hòa lẫn với những người khác; sự thay đổi của họ cho phép họ giữ mình không thay đổi.

Tôi có thể diễn đạt cách khác: họ thay đổi các ý tưởng tùy theo cái tòa án vô hình chính nó cũng đang thay đổi các ý tưởng; sự thay đổi của họ như vậy chỉ là một món tiền đặt cược cho cái điều ngày mai tòa án sẽ tuyên bố là chân lý. Tôi nghĩ đến thời tuổi trẻ tôi sống ở Tiệp Khắc. Thoát ra khỏi tình trạng phấn khởi cộng sản đầu tiên, chúng tôi cảm thấy mỗi bước nhỏ chống lại học thuyết chính thống như là một hành vi dũng cảm. Chúng tôi phản đối việc ngược đãi những người theo đạo, chúng tôi bảo vệ nghệ thuật hiện đại bị phát vãng, chúng tôi nghi ngờ sự ngu ngốc của tuyên truyền, chúng tôi phê phán việc phụ thuộc vào nước Nga, v.v. Làm như vậy, chúng tôi mạo hiểm một cái gì đó, chẳng nhiều lắm, nhưng dẫu sao cũng là một cái gì đó và mối nguy hiểm (nhỏ) ấy khiến chúng tôi thấy bằng lòng về mặt đạo lý. Một hôm một ý nghĩ ghê người chợt đến với tôi: hay là những sự phẫn nộ ấy không phải do một thứ tự do nội tại, một sự dũng cảm, mà là do ý muốn làm vui lòng cái tòa án kia, trong bóng tối, nó đã đang chuẩn bị các phiên xử đại hình của nó?

[Trích Những di chúc bị phản bội của Milan Kundera, bản dịch của Nguyên Ngọc]

Thursday, October 16, 2008

Bản sonata dành cho một con người tốt

Khi nghe âm nhạc chúng ta nghe thấy gì? Chúng ta có nghe thấy thiện tính trỗi dậy từ cõi lòng sâu thẳm mà bấy lâu nay vẫn chưa rời khỏi con người? Tôi nghĩ về Kundera, về câu chuyện mới xảy ra với ông gần đây. Tôi chợt nhớ bộ phim Cuộc sống của những người khác. Tôi nhớ tới khúc nhạc ngắn ngủi trong phim, khúc nhạc có tên Bản sonata dành cho một con người tốt (Die Sonate vom guten Menschen).

Bản sonata là điểm ngoặt trong cuộc đời của một nhân vật trong bộ phim, viên mật vụ Stasi, đang làm nhiệm vụ theo dõi cuộc sống của một nhà thơ, nhà soạn kịch Đông Đức. Khi đang nghe lén cuộc sống của nhà soạn kịch, viên mật vụ nghe được khúc sonata mà nhà soạn kịch đang chơi. Viên mật vụ sau đấy đã tìm cách bảo vệ nhà soạn kịch thoát khỏi những thô bạo của chính quyền. Người diễn viên đóng vai viên mật vụ đấy đã đóng rất thành công cảnh nghe khúc sonata. Không có lời thoại, chỉ có biểu cảm trên khuôn mặt lạnh không góc cạnh trên nền phông xam xám xanh xanh. Khúc nhạc đã đánh thức thiện tâm của một con người.

Dostroevsky có viết trong tiểu thuyết Thằng ngốc câu nói trở nên rất nổi tiếng của ông: Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới. Trong tiếng Việt câu nói này trở nên dễ cảm nhận. Một cấu trúc câu đơn giản và dễ hiểu. Trong tiểu thuyết câu nói này nguyên được viết như sau:
мир спасет красота. Tôi không biết người Nga cảm nhận câu nói này như thế nào, có trắc trở gì không, nhưng đối với tôi, tôi chỉ hiểu sau khi đã phân tích cú pháp. Ở câu nói này, bổ ngữ (thế giới) được đưa lên đầu câu, chủ ngữ (cái đẹp) bị đưa xuống cuối câu, đứng sau động từ (cứu rỗi). Ngữ pháp tiếng Nga cho phép vị trí các thành phần câu đứng tùy thích bởi vì giữa chúng còn có mối liên hệ ngữ pháp khác. Chủ ngữ (cái đẹp) ở nguyên dạng thức, điểm này cho thấy nó là chủ ngữ (cũng rất may, "cái đẹp" là một từ giống cái (cái đẹp luôn luôn mang tính nữ ngay cả trong ngôn ngữ), nếu như nó là từ giống đực hay giống trung thì đã không biệt được rồi và chỉ còn cách duy nhất là dùng vị trí trong câu xác định). Dostroevsky đã cố tình đảo vị trí bất thường trong một câu viết như vậy. Ông không muốn người ta cảm nhận nó một cách quá nhanh chóng, quá trực tiếp, không cần một giây ngừng lại để suy nghĩ. Cái đẹp có cứu rỗi được thế giới hay không, không phải là một điều hiển ngôn và dễ cảm nhận. Nhưng đối với Dostroevsky đó là một niềm tin và hy vọng, cũng bởi chính vì vậy mà ông đã phải sử dụng động từ "cứu rỗi" ở thể hoàn thành. Động từ ở thể hoàn thành không thể miêu tả hành động đang xảy ra ở hiện tại. Nó chỉ có thể miêu tả một hành động hoặc đã thực sự kết thúc ở quá khứ hoặc sẽ chắc chắn phải xảy ra ở tương lai. Cái tương lai sẽ tới đấy là cái mà ở hiện tại không thể nào biết được, không thể nào tiên nghiệm được, khi nào nó sẽ xảy ra, chỉ biết rằng chắc chắn sẽ đến lúc nó phải xảy ra.

Tôi nghĩ đến tình thế nếu viên mật vụ trong bộ phim không có mỹ cảm âm nhạc thì câu chuyện sẽ ra sao? Đánh mất mỹ cảm là đánh mất con người. Một chút mỹ cảm thôi sẽ đưa con người trở lại con người. Tác giả bộ phim đã xây dựng câu chuyện rất tốt, bởi vì đối với người Đức mỹ cảm âm nhạc sẽ không bao giờ có thể mất được. Dân tộc Đức là một dân tộc được nuôi dưỡng trong âm nhạc.

Tôi nghĩ về những người mật vụ Việt Nam. Họ có mỹ cảm không và có thể hy vọng một chút mỹ cảm còn lại nơi họ không?

Ta hát cho em bỏng rát tiếng ca buồn ....

[Bản sonata có thể nghe ở đây: http://www.imeem.com/misall/music/QtfLdRfO/gabriel_yared_stphane_moucha_die_sonate_vom_guten_mensche/ ]

Tuesday, October 14, 2008

Phiên tòa xét xử hai nhà báo

Phiên tòa xét xử hai nhà báo và hai viên công an đã diễn ra hôm nay. Viện kiểm sát đề nghị mức án thấp hơn tôi tiên đoán: tôi tiên đoán nhà báo Nguyễn Văn Hải bị án 6 tháng tù giam. Viện kiểm sát chỉ đề nghị 18-24 tháng tù treo. Tôi nghĩ Viện kiểm sát đã không nhìn xa trông rộng. Bởi vì Viện kiểm sát chỉ đề nghị án tù treo thì 5 bị tù giam của nhà báo Hải ai sẽ phải đền bù. Tự nhiên lại làm cho câu chuyện thêm rắc rối. Đề nghị 6 tháng tù giam có phải vẹn cả đôi đường: vừa không lằng nhằng về sau, vừa so với án của nhà báo Nguyễn Việt Chiến sẽ không quá nhẹ, và đằng nào cũng chỉ ngồi tù thêm 1 tháng. Bớt chuyện nào hay chuyện ấy, thêm chuyện là thêm việc. Vô sự tiểu thần tiên.

Nói như vậy không có nghĩa là việc kết án có thể tùy tiện, thêm bớt một vài tháng. 6 tháng là một hình phạt nghiêm khắc, không những để chấn chỉnh báo chí Việt Nam, chống lại sự lũng đoạn báo chí, mà còn thể hiện đúng mức độ của bản án.

Nghe đoạn băng của phiên tòa tôi thấy nhà báo Nguyễn Việt Chiến lý luận sai bét và sai lầm về chiến lược:
1. Thứ nhất, việc Ban Văn hóa tư tưởng hay các cơ quan nhà nước không nhắc nhở báo Thanh Niên không có nghĩa là những bài báo đăng trên báo Thanh Niên không xâm hại các cá nhân, các tổ chức và cơ quan nhà nước.
2. Thứ hai, bất kể khi nào trong thời gian có hiệu lực (25 năm) cơ quan điều tra đều có quyền truy tố khi phát hiện hành vi phạm tội, không phụ thuộc vào chuyện trước đấy có cơ quan công quyền nào nhắc nhở hay không
3. Thứ ba, đăng thông tin bí mật nhà nước là vi phạm luật hình sự bất kể người ta có truy tố những người khác đăng thông tin tương tự hay không, hay nguồn cung cấp thông tin có nhận thức về sự vi phạm của mình hay không. Không thể nói người khác đăng nên tôi cũng đăng, một nhận thức rất ấu trĩ, cũng như không thể nói người ta sài phần mềm lậu nên tôi cũng sài. Cũng không thể nói rằng ông Quắc đưa thông tin như vậy nên cho rằng đó không phải là bí mật nhà nước. Giả sử ông Quắc có đưa có vũ khí như súng, lựu đạn thì nhà báo cũng cất giấu trong nhà hay sao? Ứng xử với thông tin bí mật nhà nước là khi nhận được thông tin như vậy phải giữ thông tin bí mật và thông báo cho cơ quan công quyền về thông tin đấy để cơ quan công quyền thu hồi và bảo mật lại thông tin.

Monday, October 13, 2008

Kundera chỉ điểm?

Tin này tôi đọc từ blog của Nhị Linh. Milan Kundera bị tố cáo là thời trẻ từng chỉ điểm cho cơ quan an ninh Tiệp Khắc bắt người. Nếu tin này là thực thì có khi sự nghiệp của Kundera đến đây là chấm dứt. Giấc mơ giải thưởng Nobel sẽ vĩnh viễn không có nữa. Đối với các nước Đông Âu, hợp tác với cơ quan an ninh cũ bị cho là một điều cực kỳ kinh tởm. Nước Đức sau khi thống nhất đã loại bỏ toàn bộ những người từng hợp tác, làm việc với cơ quan an ninh STASI và cấm vĩnh viễn những người này làm việc trong các cơ quan nhà nước. Ba Lan cũng có những chiến dịch thanh tẩy tương tự.

Những nhà văn chống toàn trị như Orwell, và bây giờ có thể thêm Kundera, hóa ra đều từng là chỉ điểm cho mật vụ. Họ đã làm chính những việc mà chính họ trong những tác phẩm của chính mình ghê tởm, lên án và phê phán. Những hiện tượng như vậy cần phải hiểu thế nào? Liệu có thể rút ra một quy luật: ai ghê tởm, phê phán toàn trị là chính những người cộng tác với mật vụ. Nếu quy luật này đúng thì có thể nhận ra nhiều điều mà ta chưa nghĩ tới ở cuộc sống quanh đây, kể cả trong thế giới blog này.

Cập nhật:

Kundera đã lên tiếng. Ông ph
ủ nhận cáo buộc ông làm chỉ điểm. Ông nói rằng đó là thông tin dối trá.
The New York Times có bài phóng sự về câu chuyện này. Bài phóng sự có trích lại câu nói của Kundera trong buổi phỏng vấn với báo hồi năm 1985: "Chúng ta đang sống trong một thời đại mà cuộc sống riêng tư đang bị tiêu diệt. Công an tiêu diệt nó ở các nước cộng sản, các nhà báo đe dọa nó ở các nước dân chủ, dần dần con người tự đánh mất vị giác của mình về cuộc sống riêng tư và cảm giác của mình về nó. Không có bí mật sẽ chẳng có gì cả, cả tình yêu lẫn tình bạn."

Tôi nghĩ về tình thế của một người Việt Nam. Cứ như Kundera nói thì người Việt Nam đang phải chịu đựng cả hai thế lực đang tìm cách tiêu diệt cuộc sống riêng tư: công an và nhà báo. Đây có lẽ cũng là một điều cực kỳ mỉa mai: các nhà báo Việt Nam đang tàn phá cuộc sống của con người Việt Nam một cách tàn bạo, không thương tiếc. Cứ xem vụ PMU18 thì thấy rất rõ. Nhà báo và công an đang chung sức đồng lòng trong cuộc tàn phá này.

Sunday, October 12, 2008

Xét xử hai nhà báo

Ngày mai (14-10) phiên tòa xét xử hai nhà báo và hai viên công an sẽ diễn ra. Tôi thử tiên đoán kết quả xét xử (tôi chỉ tiên đoán cho một nhà báo): Nguyễn Văn Hải sẽ bị kết án 6 tháng tù giam. Như vậy anh sẽ được tự do vào tháng 11.

Thursday, October 9, 2008

Sensual ecstasy

Giải thưởng Nobel văn học năm nay được trao cho nhà văn Pháp Le Clezio. Lời dẫn của giải thưởng viết: "author of new departures, poetic adventure and sensual ecstasy, explorer of a humanity beyond and below the reigning civilization".

Lời dẫn này có từ sensual ecstasy, khiến cho tôi không khỏi không nhớ tới Milan Kundera. Không ai giải thích từ ecstasy hay hơn Kundera. Tôi vẫn chưa hiểu "below the reigning civilization" là nghĩa gì.

Updated

Tôi nghĩ rằng bây giờ tôi đã hiểu lời dẫn của giải thưởng Nobel. Beyond and below the reigning civilization là chỉ giới hạn của nền văn minh phương Tây. Vẫn có một nhân loại ở bên ngoài và bên dưới nền văn minh đấy. Tôi dịch lời dẫn giải thưởng Nobel như sau: "tác giả của những khởi hành mới, của cuộc phiêu lưu thi vị và trạng thái ngất ngây khoái cảm, người thám hiểm một nhân loại ở bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang ngự trị."


Trích từ Những di chúc bị phản bội, bản dịch của Nguyên Ngọc

Một cậu bé trai trong trạng thái ngây ngất

Ðương nhiên, không thể nói rằng âm nhạc (toàn bộ âm nhạc) không thể biểu hiện các tình cảm; âm nhạc thời đại chủ nghĩa lãng mạn là biểu cảm một cách chính thức và chính đáng; nhưng ngay cả về nền âm nhạc đó, vẫn có thể nói: giá trị của nó chẳng có gì chung với cường độ các tình cảm nó gây nên. Bởi âm nhạc có khả năng đánh thức dậy mạnh mẽ các tình cảm mà chẳng có chút nghệ thuật âm nhạc nào cả. Tôi nhớ lại hồi bé: ngồi ở piano, tôi mải mê theo những ứng tác hăng say chỉ cần dùng một hòa âm cung ut trưởng và âm át dưới fa thứ của nó, chơi cực mạnh và không dứt. Hai hòa âm và mô-típ giai điệu nguyên thủy không ngừng lặp lại gây cho tôi một xúc động mãnh liệt không một Chopin, một Beethoven nào từng gây nên được. (Một lần, bố tôi, là nhạc sỹ, hết sức giận dữ - tôi không bao giờ thấy ông giận dữ đến thế, cả trước lẫn sau lần đó - chạy vào phòng tôi, nhấc bổng tôi lên khỏi chiếc ghế con và mang tôi sang phòng ăn để đặt tôi dưới gầm bàn, với một sự ghê tởm cố nén lại.)

Ðiều tôi sống qua hồi đó, trong những ứng tác của tôi, là một cơn ngây ngất. Cơn ngây ngất là gì? Ðứa bé gõ trên phím cảm thấy một hứng thú (một nỗi buồn, một niềm vui) và cảm xúc dâng lên đến một cường độ cao tới mức không còn chịu nổi nữa: đứa bé chạy trốn trong một trạng thái mù quáng và điếc đặc trong đó mọi thứ đều bị quên bẵng đi hết, trong đó người ta quên mất cả chính mình. Bằng cơn ngây ngất, cảm xúc chạm đến cực điểm của nó, và như vậy, cùng lúc, đến sự phủ định của nó (đến sự quên bẵng mất nó).

Ngây ngất có nghĩa là "ở bên ngoài mình", như từ nguyên của từ Hy Lạp đã cho thấy: ra khỏi vị trí của mình (stasis[7 ]). ở "bên ngoài của mình" không có nghĩa là ở ngoài thời khắc hiện tại, theo kiểu như một người mơ mộng thoát về quá khứ hay tương lai. Ðích xác ngược lại: ngây ngất là đồng nhất hóa tuyệt đối với khoảnh khắc hiện tại, quên bặt hoàn toàn quá khứ và tương lai. Nếu ta xóa đi quá khứ và cả tương lai, giây phút hiện tại sẽ nằm trong không gian trống rỗng, ở bên ngoài cuộc sống và biên niên của nó, ở bên ngoài thời gian và độc lập đối với thời gian (chính vì vậy ta có thể ví nó với vĩnh hằng, cũng là sự phủ định thời gian).

Ta có thể thấy hình ảnh thính giác của xúc cảm trong giai điệu lãng mạn của Lied: độ kéo dài của nó dường như muốn duy trì, phát triển, để cho người ta nhấm nháp chậm rãi cảm xúc. Ngược lại, cơn ngây ngất không thể phản ánh trong một giai điệu, bởi ký ức bị cơn ngây ngất chẹt cứng lại không cho phép nhớ chung các nốt của một câu giai điệu dầu chỉ dài đôi chút; hình ảnh thính giác của cơn ngây ngất là tiếng thét (hay: một mô-típ rất ngắn bắt chước tiếng thét).

Ví dụ kinh điển của cơn ngây ngất là khoảnh khắc cực khoái. Ta hãy trở về cái thời phụ nữ còn chưa được biết đến lợi ích của viên thuốc tránh thai. Thường xảy ra chuyện một anh tình nhân lúc hứng lên quên tụt xuống kịp thời khỏi cơ thể người tình và làm cho cô ta trở thành mẹ, dầu mới mấy phút trước đó anh ta đã có ý định kiên quyết là phải cực kỳ cẩn thận. Giây phút ngây ngất khiến anh quên bẵng mất cả quyết định của mình (quá khứ tức thì của anh) lẫn các lợi ích của mình (tương lai của anh) .

Như vậy khoảnh khắc ngây ngất đặt trên bàn cân đã nặng hơn đứa con không mong muốn; và bởi vì đứa con không mong muốn, bằng sự hiện diện không mong muốn của nó, hẳn sẽ lấp đầy cả cuộc đời kẻ tình nhân, cho nên có thể nói một khoảnh khắc ngây ngất cân nặng hơn cả một cuộc đời. Cuộc đời của người tình đối mặt với khoảnh khắc ngây ngất gần như ỏ trong cùng một tình trạng thua kém giống hệt niềm tử tận đối mặt với sự vĩnh hằng. Con người ao ước sự vĩnh hằng nhưng nó chỉ có được thế phẩm của vĩnh hằng: khoảnh khắc ngây ngất.

Tôi nhớ lại một ngày trong thời trai trẻ của tôi: tôi ngồi cùng với một người bạn trong chiếc xe của cậu ấy; trước mặt chúng tôi, người ta đang đi ngang qua đường. Tôi nhận ra một người nào đó mà tôi không ưa và tôi đã chỉ người ấy cho cậu bạn: "Cán nát hắn ta đi!" Tất nhiên đấy chỉ là đùa, nhưng cậu bạn tôi đang ở trong một trạng thái sảng khoái kỳ lạ và cậu dấn ga. Người kia hoảng hốt, trượt chân, ngã. Cậu bạn tôi vừa kịp hãm xe đúng vào giây cuối. Người kia không bị thương, tuy nhiên người ta xúm lại quanh và muốn hành hung chúng tôi (tôi hiểu họ). Tuy nhiên bạn tôi đâu có lòng dạ sát nhân. Mấy từ của tôi đã đẩy cậu ta vào một cơn ngây ngất ngắn ngủi (vả chăng, đấy là một trong những cơn ngây ngất kỳ lạ nhất: cơn ngây ngất của một lời nói đùa).

Người ta thường quen gắn liền khái niệm cơn ngây ngất với những khoảnh khắc thần bí lớn. Nhưng có những cơn ngây ngất thường nhật, tầm thường, dung tục: cơn ngây ngất của sự tức giận, cơn ngây ngất của tốc độ trên tay lái, cơn ngây ngất của sự đinh tai vì tiếng ồn, cơn ngây ngất của các sân bóng. Sống, là một cố gắng nặng nhọc thường xuyên để đừng quên chính mình đi, luôn ở trong cái stasis của mình. Chỉ cần đi ra khỏi mình trong một khoảnh khắc, là người ta đã chạm đến lãnh địa của cái chết.

Tuesday, October 7, 2008

Thế giới đối xứng bị phá vỡ

Có những quan niệm về vẻ đẹp khác nhau. Có quan niệm cho rằng vẻ đẹp phải đăng đối, cân xứng. Vẻ đẹp kiến trúc cổ điển thường được biểu hiện ở tính đối xứng của cấu trúc. Tự nhiên, ở nhiều dạng tồn tại, cho thấy vẻ đẹp của mình ở dạng đối xứng. Chiếc lá phong mùa thu đỏ rực đối xứng qua một mặt gương đặt dọc theo sống lá chính. Giọt nước mưa tí tách rỏ xuống từ mái tranh trong một đêm thu đối xứng quanh trục quay dọc theo giọt nước. Thiên nhiên tưởng chừng như ưu ái vẻ đẹp đối xứng. Nhưng cái đối xứng của lá phong đó, của giọt nước mưa đó là đối xứng của hình khối. Ở đấy chưa có sự tác động của các quy luật vật lý của tự nhiên. Quy luật của tự nhiên dường như khởi đầu ở đối xứng và sau đó đã đánh mất đối xứng của mình, và kết quả chỉ còn lại một thế giới đối xứng đã bị phá vỡ. Hoài vọng của con người là làm sao có thể biết được thế giới chúng ta đang sống có đối xứng không và nếu như đối xứng đã bị phá vỡ thì chúng bị phá vỡ như thế nào, đâu là đối xứng đã mất.

Một con lừa đứng giữa hai bó cỏ giống nhau. Con lừa phân vân lưỡng lự không biết chọn bó cỏ nào ngon hơn. Con lừa đang ở tâm điểm đối xứng giữa hai bó cỏ. Con lừa sẽ chết đói vì không biết chọn bó cỏ nào và đối xứng giữa hai bó cỏ sẽ được bảo toàn. Nhưng thực tế có phải vậy không? Liệu con lừa có thể chết đói không? Không, con lừa sẽ chọn một bó cỏ để xơi. Cái đối xứng giữa hai bó cỏ đấy đã bị phá vỡ. Phá vỡ vì sự sống. Một phá vỡ hoàn toàn tự phát. Giống như câu chuyện của con lừa, tự nhiên phá vỡ đối xứng của mình một cách tự phát để hưởng lợi. Cái lợi thu được là sự ổn định, bền vững và trường tồn.

Những quy luật vật lý của tự nhiên thường được thể hiện qua các lý thuyết, mô hình, phương trình. Toàn bộ cơ học ở thế giới vĩ mô được mô tả bằng ba định luật Newton bất hủ. Cơ học Newton của một hệ vĩ mô bất biến khi tiến hành một phép quay hay phép tịnh tiến lên hệ. Nói một cách khác cơ học Newton có tính đối xứng của phép quay và phép tịnh tiến, giống như chiếc lá phong mùa thu bất biến khi ta soi nó qua một mặt gương dọc theo sống lá. Nhưng khác với đối xứng của chiếc lá phong, đối xứng trong cơ học Newton không phải là đối xứng của hình khối, mà là đối xứng trong chuyển động của các vật chất. Thực tế cuộc sống trên trái đất cho thấy quả táo chỉ có thể rơi xuống theo chiều thẳng đứng. Nó không thể bay lên hay bay ngang nếu ta không ném nó, tức là ta phải tác động thêm một lực vào quả táo. Như vậy có một hướng trong không gian, hướng thẳng đứng xuống, có ưu thế hơn so với các hướng khác. Tính đối xứng đẳng hướng đã bị phá vỡ. Sự phá vỡ đối xứng ở đây không phải tự phát. Đối xứng bị phá vỡ do sự có mặt của trái đất. Trái đất đã tạo ra một trường lực, trường hấp dẫn, tác động lên quả táo, và trường này đã phá vỡ tính đối xứng đẳng hướng. Quả táo rơi xuống mặt đất vì làm như vậy nó sẽ thu được lợi về năng lượng. Nếu ta ném quả táo bay lên, ta phải tiêu tốn một lượng năng lượng nhất định. Cũng giống như vậy các dòng sông đều trôi ra biển, chúng trôi từ nơi cao xuống nơi thấp để thu lợi về năng lượng. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà đối xứng đẳng hướng đã không còn nữa. Chỉ có trong thơ ca các dòng sông mới chảy lên trời như Vương Chi Hoán, một nhà thơ thời Đường, từng viết "Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian", Hoàng hà xa xa đang leo lên đám mây trắng. Câu thơ của Vương Chi Hoán như một hoài vọng về đối xứng đã mất, đã không còn nữa, những gì còn lại chỉ là một huyễn ảo mê hoặc tâm can con người.

Như vậy đối xứng có thể bị phá vỡ. Chúng có thể bị phá vỡ một cách tự phát, hay bị một trường ngoài cưỡng bức phá vỡ. Rừng phong vàng rực trong chiều thu là một phong cảnh rất quyến rũ. Để có một màu vàng rực đó mỗi chiếc lá phong đã phải đỏ vàng khi gió thu về. Mỗi chiếc lá phong riêng rẽ lại có những đối xứng của riêng mình như đối xứng qua mặt gương dọc theo sống lá. Mỗi chiếc lá phong lại được cấu tạo từ vô số nguyên tử nhỏ bé. Mỗi nguyên tử nhỏ bé lại được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn, điện tử và nucleon. Các nucleon lại được cấu tạo từ các hạt nhỏ hơn nữa, các hạt quark. Các hạt quark được coi như là những viên gạch nền tảng xây dựng toàn bộ thế giới này. Giống như trong rừng phong, mỗi chiếc lá phong có tính đối xứng của mình, dưới cấu trúc nguyên tử, các hạt cơ bản cũng có những tính đối xứng của mình. Giống như chiếc lá phong, trong thế giới các hạt cơ bản có đối xứng gương hay đối xứng chẵn lẻ, tức là đối xứng mà các tọa độ không gian bị lật ngược lại như phản chiếu qua một tấm gương. Nếu như chúng ta lật đi rồi lại lật tiếp thì không gian lại trở về như cũ. Do đó chỉ có hai khả năng có thể xảy ra, hoặc trạng thái của hạt không thay đổi, hoặc trạng thái đổi dấu khi ta lật một lần các tọa độ không gian. Chính vì đặc điểm này mà đối xứng gương trong thế giới các hạt cơ bản còn được gọi là đối xứng chẵn lẻ. Các hạt có tính đối xứng chẵn nếu trạng thái của nó không đổi dấu khi các tọa độ không gian lật qua tấm gương, là là lẻ khi ngược lại. Người ta ký hiệu đối xứng này bằng chữ P, chữ cái đầu của từ Parity, tính chẵn lẻ. Bên cạnh đối xứng gương, các hạt cơ bản còn có đối xứng điện tích. Đối xứng điện tích là đối xứng khi điện tích hạt bị đổi dấu ngược lại. Electron đổi dấu điện tích trở thành positron. Người ta còn gọi các hạt có cùng khối lượng nhưng khác dấu điện tích là phản hạt. Phép đối xứng điện tích biến các hạt thành phản hạt của chúng. Phép đối xứng này được ký hiệu bằng chữ C, chữ cái đầu của từ Charge, điện tích. Đối xứng khác nữa của thế giới các hạt cơ bản là đối xứng thời gian. Đối xứng thời gian là thời gian đổi chiều ngược lại, từa tựa như một bộ phim bị tua ngược lại. Đối xứng thời gian được ký hiệu bằng chữ T, chữ cái đầu của từ Time, thời gian. Người ta nhận thấy tự nhiên tôn trọng đối xứng CPT, có nghĩa là khi thế giới được đối xứng qua gương, các vật chất biến thành phản vật chất và thời gian quay ngược lại thì cái thế giới đấy sẽ giống y chang như cái thế giới này. Trong cái thế giới đối xứng qua gương đó, một phản-tôi đang ngồi viết những dòng chữ này khi thời gian lùi về quá khứ. Nhưng dưới tổ hợp đồng thời 3 đối xứng đấy, tự nhiên có còn tôn trọng các tổ hợp đối xứng khác nữa không? Đầu tiên người ta nghĩ đến đối xứng P, đối xứng gương hay đối xứng chẵn lẻ. Liệu có hai thế giới giống như nhau nhưng tính chẵn lẻ khác nhau? Tất cả các vật chất trong tự nhiên chịu sự chi phối của 4 loại tương tác cơ bản: tương tác hấp dẫn giữa các vật có khối lượng, tương tác điện từ giữa các điện tích, tương tác yếu giữa các hạt cơ bản bằng cách trao đổi các hạt boson nặng, và tương tác mạnh giữa các hạt quark và gluon. Đối với tương tác điện từ, tương tác giữa các điện tích và tương tác mạnh, tương tác giữa các hạt trong hạt nhân, tính đối xứng chẵn lẻ được tôn trọng. Nhưng đối với tương tác yếu, tương tác đã khiến cho mặt trời và các vì sao phát sáng, người ta ngờ rằng đối xứng gương không được tôn trọng. Dương Chấn Ninh (Chen-Ning Yang) và Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee) đã giải quyết vấn đề này và hai ông đã được trao giải thưởng Nobel về lý thuyết tính đối xứng chẵn lẻ bị vi phạm trong tương tác yếu. Trong đóng góp về khám phá đối xứng này không thể không nói đến một người phụ nữ, nhà vật lý gốc Trung Quốc, Ngô Kiện Hùng (Chien-Shiung Wu), một người phụ nữ có tên gọi rất giống đàn ông. Bà là người đã tiến hành thí nghiệm khẳng định lý thuyết của họ Dương và Lý rằng tương tác yếu đã vi phạm tính chẵn lẻ. Một người phụ nữ trong xã hội Trung Hoa có học vấn trên đại học thưở còn Trung Hoa dân quốc đã là một điều khó. Người phụ nữ đó lại có những đóng góp cơ bản cho nhận thức của nhân loại về tự nhiên quả là một điều phi thường. Nếu đối xứng P đã bị vi phạm thì liệu đối xứng CP có thể được không? Đối xứng CP là đối xứng qua gương và đồng thời hạt biến thành phản hạt. Liệu có một thế giới chẵn và một phản thế giới lẻ giống như nhau không? Khác với đối xứng gương trước đây, lý thuyết đi trước thực nghiệm, lần này thực nghiệm phát hiện trước đối xứng CP bị vi phạm trong một thí nghiệm phân rã một loại hạt meson có tên là kaon. Với phát hiện này hai nhà vật lý Cronin và Fitch đã được trao giải thưởng Nobel. Đối xứng CP bị vi phạm cho thấy các quy luật vật lý trong thế giới vật chất và thế giới phản vật chất khác nhau. Vấn đề đối xứng CP bị vi phạm đặt ra cho nhà vật lý lý thuyết đi tìm câu trả lời tại sao tự nhiên lại làm như vậy? Hai nhà vật lý Nhật Bản Kobayashi và Maskawa đã tìm ra đúng câu trả lời. Để trả lời câu hỏi về bí ẩn của đối xứng CP một cặp hạt quark nữa cần phải đưa vào trong lý thuyết tính toán. Kết quả là lý thuyết cần 6 hạt quark, tạo thành 3 cặp thế hệ. Với lý thuyết về đối xứng phá vỡ cùng với tiên đoán ba cặp hạt quark đã đem lại cho Kobayashi và Maskawa giải thưởng Nobel năm 2008.

Kết quả của câu chuyện về con lừa và đối xứng giữa hai bó cỏ bị phá vỡ tự phát là con lừa no bụng. Vậy tự nhiên khi làm đối xứng bị phá vỡ một cách tự phát thì có phát sinh ra gì không? Khi đối xứng bị phá vỡ một cách tự phát có một loại hạt boson không có khối lượng xuất hiện. Người ta gọi đó là hạt boson Goldstone hay Nambu-Goldstone để kỷ niệm hai nhà vật lý đã tìm ra lý thuyết về chúng. Mặc dù tên gọi hạt boson Goldstone được phổ biến hơn, nhưng công trình của Nambu lại xuất hiện trước công trình của Goldstone. Tuy nhiên cũng phải nói rằng Goldstone phát biểu định lý về phá vỡ đối xứng tự phát này một cách rõ ràng hơn Nambu. Mặc dù vậy giải thưởng Nobel năm nay lại trao cho Nambu về khám phá cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát trong vật lý hạ nguyên tử. Ủy ban giải thưởng Nobel đã rất cẩn thận khi viết rõ rằng đây là giải thưởng cho lý thuyết đối xứng tự phát trong vật lý hạ nguyên tử, không phải là lý thuyết đối xứng tự phát nói chung. Câu chuyện về phá vỡ đối xứng tự phát sẽ không dừng lại ở đây. Tháng trước một máy gia tốc hạt cực mạnh đời mới LHC của CERN ở Geneva bắt đầu chạy trong cuộc tìm kiếm hạt Higgs, một loại hạt xuất hiện khi có phá vỡ đối xứng tự phát trong lý thuyết chuẩn. Đây là cuộc tìm kiếm được cho là kỳ vọng nhất hiện nay và hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn trong công cuộc đi tìm đối xứng đã mất của tự nhiên.

Khi viết về Nghệ thuật tiểu thuyết Kundera có dẫn mấy câu thơ của Skacel:

Các nhà thơ không sáng chế ra các bài thơ
Bài thơ nằm đâu đó ở phía sau kia
Lâu lắm rồi nó vẫn ở đó
Nhà thơ chỉ có việc khám phá ra nó.


Vật lý cũng giống như thơ. Các nhà vật lý không sáng chế ra các lý thuyết. Các lý thuyết nằm ở đâu đó đằng sau kia và họ chỉ có việc khám phá ra nó. Khám phá ra các lý thuyết - những bài thơ của tự nhiên, những vẻ đẹp của tự nhiên luôn là những điều hấp dẫn. Trên con đường khám phá đó nếu anh không khám phá được gì thì đó cũng không phải là một điều đáng chán vì trên con đường đấy anh đã có được những thẩm mỹ về vẻ đẹp quyến rũ đến nao lòng của tự nhiên. Nghe nhạc không thấy hay, xem tranh không thấy thích, đó là một sự thiệt thòi và cũng là một khiếm khuyết về thẩm mỹ. Trước vẻ đẹp của tự nhiên, từ vũ trụ bao la đến các hạt bé tí, từ thời gian vô cùng đến một sát na, nếu không cảm được vẻ đẹp của chúng thì đấy cũng là một thiệt thòi và cũng là một khiếm khuyết về thẩm mỹ.

Sunday, October 5, 2008

Lịch sử và hư cấu

Khi xem bộ phim của Tần ca của Chu Hiểu Văn tôi đã tự hỏi đâu là giới hạn hư cấu có thể của nghệ thuật khi tiếp cận với lịch sử? Tần ca từng bị chỉ trích vì đã xuyên tạc lịch sử, cho Cao Tiệm Ly làm bạn nối khố với Tần Thủy Hoàng. Bộ phim từng bị cấm, nhưng sau đó lại được cho phép chiếu. Lịch sử và hư cấu nghệ thuật là một vấn đề phức tạp. Phức tạp không chỉ cho tác giả, mà còn cho cả công chúng và ứng xử của họ đối với tác phẩm. Thế nào là phải và thế nào là không phải?

Một sản phẩm tiêu dùng độc hại cho sức khỏe của người tiêu dùng bị cấm lưu hành sẽ không có ai phản đối. Chất độc bảng A cấm lưu hành đại chúng, cũng không có ai phản đối. Trần truồng ở nơi công cộng cũng bị cấm. Những cấm đoán này dường như rất hiển nhiên và dễ dàng chấp nhận. Nhưng một sản phẩm nghệ thuật bị cấm lưu hành hay lưu hành hạn chế thường tạo ra những phản cảm. Không hẳn vì những nguy hại của một tác phẩm nghệ thuật khó xác định hay xác định không được nhất quán, mặc dù thường là như vậy, mà nghệ thuật dường như là một địa hạt đặc biệt có những đặc quyền được miễn trừ mặc dù rất khó xác định. Ngay cả những sản phẩm tiêu dùng được xác định là độc hại cho sức khỏe cũng chỉ dựa trên những hiểu biết của con người ở thời điểm hiện tại, có nghĩa là tính độc hại của những sản phẩm đó cũng có thể thay đổi theo thời gian. Giả sử như có một tác phẩm viết rằng Trần Hưng Đạo âm mưu cấu kết với quân Nguyên, hãm hại Trần Ích Tắc, buộc Trần Ích Tắc phải miễn cưỡng nhập Nguyên thì ứng xử của chúng ta với tác phẩm như vậy sẽ như thế nào? Tác phẩm như vậy có nguy hại là xuyên tạc lịch sử và gieo rắc những đánh giá các nhân vật lịch sử dựa trên sự xuyên tạc lịch sử, phá vỡ tính ổn định của văn hóa và truyền thống. Trong nhiều trường hợp, những xuyên tạc lịch sử trong các tác phẩm nghệ thuật lại được bỏ qua vì những lý do khác nhau. Vở kịch Thái hậu Dương Vân Nga đã xuyên tạc Nguyễn Bặc, Đinh Điền câu kết với nhà Tống. Đối với những công chúng không am hiểu lịch sử, vở kịch rất dễ gieo vào tri thức của họ rằng Nguyễn Bặc, Đinh Điền là những tên phản bội tổ quốc.Tôi luôn cảm thấy không ổn ở vở kịch này. Có thể xây dựng các nhân vật hư cấu câu kết với nhà Tống xâm lược hơn là xuyên tạc các nhân vật lịch sử àm việc này. Nhân danh cái gì chúng ta có thể gán cho một người vô tội tội phản bội tổ quốc dù chỉ là trong nghệ thuật? Nếu như một tác phẩm xuyên tạc về một nhân vật có thật cùng thời thì tác giả có thể bị kiện và tác phẩm sẽ bị cấm lưu hành vì tội xuyên tạc hay bôi nhọ, nhưng xuyên tạc một nhân vật lịch sử thì dường như đấy lại là vô can, lại là nghệ thuật. Người chết không thể đội mồ sống lại để khởi kiện tác giả. Đâu là giới hạn cho phép của nghệ thuật? Liệu nghệ thuật có quyền xuyên tạc thoải mái các nhân vật lịch sử? Các nhân vật lịch sử phải chịu khổ nạn vì nghệ thuật và họ không có quyền bảo vệ sự thật về mình trong nghệ thuật?

Ứng xử dân gian đối với các nhân vật lịch sử có thể phát lộ ra những cách tiếp nhận sự thật lịch sử khác. Vụ án Lệ chi viên của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ được dân gian sáng tác thành chuyện rắn báo oán. Bỏ qua những đặc điểm vay mượn có thể từ các nền văn hóa khác vốn là đặc điểm khá phổ biến của các câu chuyện dân gian, chuyện rắn báo oán có thể coi là một là một tác phẩm nghệ thuật tiếp cận lịch sử. Dân gian có thể thoải mái biến các nhân vật lịch sử thành rắn, thành hổ mà không gây ra những phản cảm về xuyên tạc lịch sử. Những chi tiết hư cấu mang tính phi thực như vậy tuy không phải là sự thật lịch sử nhưng cũng không xuyên tạc những nhận thức lịch sử về các nhân vật lịch sử được nói đến. Tức là ở đấy không có mâu thuẫn đối kháng giữa hư cấu và lịch sử.
[còn nữa]

Friday, October 3, 2008

Ngô đồng nhất diệp lạc

Nhiều người biết câu thơ này. Ngô đồng nhất diệp lạc. Câu thơ tiếp theo thấy chép lộn xộn. Thiên hạ cộng tri thu, Thiên hạ cộng bi thu, Thiên hạ tận tri thu. Nguyên thủy không biết hai câu thơ này của ai. Quảng quần phương phổ chép là "Thiên hạ tận tri thu". Một chiếc lá ngô đồng rụng, hết cả thiên hạ đều biết là mùa thu. Khác với, một chiếc lá ngô đồng rụng, thiên hạ cùng biết là mùa thu. Quảng quần phương phổ có lẽ là cái gốc cuối cùng truy nguyên hai câu thơ này.
Photobucket

Cây ngô đồng ở Trung Quốc hơi khác với cây ngô đồng ở châu Âu. Lá cây ngô đồng Trung Quốc chia thành thùy hình chân vịt rõ nét, như ảnh ở dưới đây



Cây ngô đồng ở châu Âu có lá như ảnh dưới đây (có lẽ phải gọi là cây phong vì có gốc latin là acer)



Cây ngô đồng ở Việt Nam như thế nào?

Chiều chiều ra đứng tây lầu tây
Thấy cô tang tình gánh nước
Tưới cây, tưới cây ngô đồng

Bài lý này nhắc về một lầu tây. Nhất định phải là tây. Không thể là đông, nam, bắc. Cứ như là một quy định, không thể xê dịch. Chỉ có ở lầu tây mới có đôi lứa nhớ nhung, mới có buồn vương sầu nhớ. Lầu đông, lầu nam không cho cảm giác như vậy. Ứng tác dân gian đã tuân theo những ước lệ điển cố mang đặc điểm của một định hình văn hóa. Sử dụng sai những ước lệ tạo ra các lệch nhịp về văn hóa, thông điệp truyền tải sẽ không được đảm bảo tiếp nhận một cách nhất quán trong thẩm mỹ. Nếu lầu tây là một thông điệp nói về tình yêu thì ngô đồng lại là một thông điệp về mùa thu. Mùa thu và lầu tây là đôi lứa, là nhớ nhung, là buồn thương, xa cách, là nỗi hận trong lòng, là sự biệt ly không tránh khỏi. Bài lý chỉ cần hai từ, lầu tây và ngô đồng, để làm trụ cột cho toàn bài. Hiếm có những ứng tác dân gian mang tính thẩm mỹ hàn lâm như vậy.

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông