Friday, January 30, 2009

Những lỗi lầm trong dịch thuật

Khi bàn luận về dịch thuật, Nabokov chia các lỗi lầm trong dịch thuật thành ba cấp độ khác nhau. Cấp độ thấp nhất và dễ tha thứ nhất là lỗi lầm do nhầm lẫn hay trình độ hiểu biết kém. Đây là lỗi lầm mang thuộc tính con người. Cấp độ thứ hai là người dịch cố tình bỏ qua từ ngữ hay đoạn văn, không mất công tìm hiểu chúng hay cho rằng chúng không phù hợp với độc giả. Người dịch đã cho rằng mình hiểu rõ tác giả nên làm như vậy nhưng thực ra người dịch đã không hiểu tác giả. Cấp độ lỗi lầm thứ ba, mức độ cao nhất mà Nabokov gọi là tội ác, là người dịch đã biến đổi tác phẩm để nó phù hợp với nhận thức hay định kiến của một nhóm công chúng nào đó.

Cấp độ lỗi lầm thấp nhất trong dịch thuật là những sai sót mà chúng ta hay thấy trong các bài báo phê bình các tác phẩm dịch như dịch từ này chưa đúng, câu này dịch sai hay dịch chưa chuẩn, hay "Tây" quá, ví dụ như tôi phê bình bản dịch Những kẻ thiện tâm. Thoạt tiên có thể nghĩ đây là lỗi lớn. Nhưng xét trên khía cạnh nhân cách thì đây lại là lỗi nhỏ nhất và dễ bỏ qua nhất, bởi vì những sai sót đấy thuộc về thuộc tính con người.

Cấp độ lỗi lầm thứ hai trong dịch thuật là cố tình bỏ qua tìm hiểu ngữ nghĩa những gì tác giả viết. Người dịch hoặc bỏ qua nó, hoặc biến đổi nó và cho rằng làm như vậy là tốt cho độc giả. Ví dụ lỗi lầm ở mức độ này là cách dịch tên tiểu thuyết Suite Francaise của Nemirovsky thành Bản giao hưởng Pháp. Có lẽ, người dịch chắc chắn biết rằng suite không phải là bản giao hưởng, nhưng cho rằng cái tên Tổ khúc Pháp không phù hợp với độc giả Việt Nam nên đã đổi tổ khúc thành bản giao hưởng. Với cách làm như vậy người dịch đã giết chết cách nhận ra cấu trúc tiểu thuyết khi người đọc đọc tiểu thuyết. Một cấu trúc tổ khúc với 5 phần là ý định xây dựng tiểu thuyết của Nemirovsky. Đây là một lỗi lầm nặng, chỉ cách tội ác có một bước chân.

Tội ác trong dịch thuật là lỗi lầm dịch thuật ở cấp cuối cùng theo Nabokov. Ví dụ tội ác này như bản dịch bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ Obama đã bị cắt xén để phù hợp với nhận thức, định kiến hay quan điểm của một nhóm người nào đó. Đây là lỗi dịch thuật không thể tha thứ, bởi vì nó đã hình thành một tội ác, tội ác làm băng hoại nhân cách con người. Những tội ác trong dịch thuật này thường không thấy mấy ai đề cập hay phê bình trên báo chí, nhưng mức độ nguy hại của nó lại lớn nhất và khủng khiếp nhất. Thử so sánh tội ác trong dịch thuật này với tội ác Lò thiêu người trong chiến tranh thế giới thứ hai. Thoạt tiên có thể nghĩ tội ác trong dịch thuật này đâu có làm chết ai, chẳng là gì so với lò thiêu người. Nhưng xét trên mức độ nhân cách sẽ thấy tội ác trong dịch thuật kiểu này và tội ác trong lò thiêu người không khác gì nhau về nhân tính, cùng thực thi ý chí của một cá nhân hay của một nhóm người mà không cảm thấy sự cần thiết của một tinh thần phê phán hay một tinh thần luân lý. Nói một cách khác đây chính là tội ác liên quan đến sự băng hoại của siêu ngã, giống như nhân vật chính trong Những kẻ thiện tâm. Vậy tội ác trong dịch thuật có thể không bị trừng phạt không? Tôi nghĩ chắc chắn sẽ bị trừng phạt không ở dạng này thì ở dạng khác, không ở đời này thì ở đời khác. Ngày phán xét chắc chắn sẽ đến chỉ có điều có thể không nhận ra những bước chân rất gần của nó.

Thursday, January 29, 2009

Vấn đề siêu ngã trong Những kẻ thiện tâm

Vấn đề mấu chốt trong tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm của Littell là vấn đề siêu ngã. Siêu ngã là chiếc chìa khóa để khai phá nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này.

Siêu ngã là một trong ba thành phần của nhân cách con người. Đó là bản ngã (Id), ngã (ego) và siêu ngã (superego). Bản ngã là phần cốt lõi vô thức của nhân cách, là nguồn gốc của tất cả năng lực tâm lý và tạo ra những thành tố nguyên thủy của nhân cách. Bản ngã hoạt động trên nguyên tắc khoái lạc tình dục và có thể tạo ra những hành vi khủng khiếp. Ngã là phần nhân cách liên kết với thực tế. Ngã phát triển trên cơ sở bản ngã và đảm bảo những xung lực của bản ngã thể hiện ở những hành vi chấp nhận được trong thực tế. Siêu ngã là phần nhân cách liên kết con người với xã hội với tất cả những chuẩn mực và tư tưởng đạo đức, tức là ý thức về đúng và sai của hành vi con người. Siêu ngã tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức từ cha mẹ và xã hội. Siêu ngã ngăn cản những hành vi không chấp nhận được của bản ngã và chiến đấu để ngã tuân theo những nguyên tắc lý tưởng hơn là nguyên tắc thực tiễn. Nhờ có siêu ngã mà con người biết được những hành vi đúng, sai, chấp nhận được hay không chấp nhận được.

Trong Những kẻ thiện tâm siêu ngã bị tha hóa và sa đọa. Chính vì vậy mà các hành vi của nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết, Aue, trở nên tàn bạo, lạnh lùng, không một chút hối hận về nhân tính. Đây chính là điều khủng khiếp khi đọc cuốn tiểu thuyết này. Tại sao siêu ngã bị tha hóa và sa đọa? Có hai nguồn gốc. Một xuất phát từ xã hội, và nguồn gốc còn lại xuất phát từ cha mẹ. Xã hội mà Aue sống là cái xã hội mà con người mất khả năng định vị đúng sai về nhân tính. Ở cái xã hội đấy, trong chuẩn mực đạo đức bỗng chốc người Do Thái không còn phải là con người và bị đối xử như một giống vật. Chính điểm này đã hủy hoại phương hướng đạo đức mà siêu ngã cần phải tiếp nhận. Những vấn đề này cũng được Aue suy nghĩ (trang 71-76 tập II), và thậm chí là bàn luận với Eichmann (trang 42-43 tập II), nhưng cũng đã muộn. Nguồn gốc tha hóa thứ hai xuất phát từ cha mẹ. Cả thời niên thiếu Aue sống thiếu cha, và người mẹ đã không đảm bảo một chuẩn mực đạo đức để siêu ngã của Aue tiếp nhận. Sự sa ngã của siêu ngã của Aue không chỉ thể hiện qua mức độ hành vi thực tế, mà còn thể hiện cả ở mức độ tiềm thức như trong những con mộng mị của Aue. Những cơn mộng mị triền miên, mất khả năng định vị đúng sai, tốt xấu như cơn mộng mị trong chương Air những cục phân nhảy múa như thức ăn.

Sự sa ngã của siêu ngã là một khám phá lớn của tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm. Đặc biệt sự sa ngã đó liên quan mật thiết tới thiết chế xã hội. Một thiết chế xã hội, hình thành từ những nguyên tắc dân chủ, đã tha hóa và làm sa đọa siêu ngã, không phải là hủy hoại những kẻ thù của thiết chế đấy, như người ta tưởng, mà là hủy hoại chính những con người nòng cốt của nó. Đọc Những kẻ thiện tâm, tôi không khỏi không nghĩ về xã hội Việt Nam đương đại, và vấn đề siêu ngã đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trước mắt chúng ta, những vấn nạn như vặt hoa, phá phố hay những đề phức tạp hơn ở hình thức này nay hình thức khác, nơi mà những chuẩn mực ứng xử đạo đức đã bị hủy hoại một cách trực diện và không biết liệu có còn hy vọng gì không để vực lại siêu ngã. Nếu không còn hy vọng, một Aue Việt Nam sẽ xuất hiện không ở dạng này thì ở dạng khác. Những kẻ thiện tâm là một cảnh báo với chính chúng ta.

Wednesday, January 28, 2009

Về bản dịch Những kẻ thiện tâm

Mặc dù không biết tiếng Pháp tôi vẫn có thể nhận ra những khiếm khuyết trong bản dịch tiếng Việt Những kẻ thiện tâm của Cao Việt Dũng. Cũng vì do không biết tiếng Pháp nên tôi chỉ có thể nhận ra những khiếm khuyết ở cấp độ thấp. Một khó khăn nữa là khi đọc tôi đã không đánh dấu những chỗ khiếm khuyết hay nghi ngờ có khiếm khuyết nên bây giờ không thể liệt kê toàn bộ. Có thể nói biên tập và người sửa bản in đã không hoàn tất công việc của mình được tốt nên tôi đã bắt gặp đôi chỗ lỗi in ấn.

Khiếm khuyết nổi bật trong bản dịch tiếng Việt là sự thiếu nhất quán trong việc phiên âm địa danh, tên người. Tôi lấy ví dụ Munich trong nguyên bản tiếng Pháp được đổi thành Muenchen của tiếng Đức, nhưng Cologne lại vẫn được giữ nguyên mà không được đổi thành Koeln. Tên người, tên địa danh Nga, Ba Lan cũng trong trường hợp tương tự. Một đằng là Matxcova, nhưng đằng khác lại là Ourals, một bên là Vasava, bên khác là Cracovie. Tôi không thích thú khi đọc "sông Đông" và cực kỳ ghét khi nhìn thấy Pouchkine, một kiểu phiên âm Việt hóa kỳ dị và một lối viết theo tiếng Pháp với "ou", với "ch", với "e" như chọc vào mắt.

Phần phụ lục vừa thiếu, vừa thừa, vừa sai. Tôi không hiểu có nhu cầu gì cần phải giải thích Muenchen là Munich [mà đã thích giải thích sao không giải thích Cracovie?]. Kompot được giải nghĩa là "món mứt hoa quả", datcha là "nhà nông thôn kiểu Nga" là sai bét. Kompot là thứ nước nấu từ quả phơi khô, datcha là kiểu nhà nghỉ ngoại ô ở Nga.

Trang 327 tập 1 có câu: "Chúng tôi trở xuống thành phố bằng Verkhii rynok, nơi những người nông dân đang hoàn thành việc chất gà qué, trái cây và rau cỏ không bán được xe bò hoặc trên lưng lũ la." Một câu có 3 khiếm khuyết. Thứ nhất phần phụ lục không giải thích Verkhii rynok, thứ hai giới từ "bằng" là một từ tối nghĩa, thứ ba thiếu giới từ "lên" [xe bò]. Đây là một ví dụ mà may mắn là tôi tìm lại được mặc dù đã không đánh dấu.

Tuesday, January 27, 2009

Những đặc điểm song song giữa Những kẻ thiện tâm và thần thoại Hy Lạp

Bên cạnh cấu trúc tổ khúc vũ nhạc với những đặc điểm phức điệu, tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm của Littell có những đặc điểm song song trùng với thần thoại Hy Lạp. Gạt bỏ những yếu tố hiện đại như khung cảnh chiến tranh thế giới lần thứ hai, cuộc tận diệt người Do Thái, cuộc đời của Aue, nhân vật chính của tiểu thuyết, có những đặc điểm khá giống cuộc đời của Orestes, một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp.

Orestes là con trai của Agamemnon, vua xứ Argos và Clytemnestra. Sau chiến tranh thành Troj, Agamemnon trở về xứ sở của mình thì bị vợ là Clytemnestra câu kết với người em họ Aegisthus giết chết. Trong thời gian Agamemnon tham gia cuộc chiến thành Troj, Clytemnestra dan díu với Aegisthus, và sau khi Agamemnon bị giết họ trở thành vua và hoàng hậu xứ Argos. Orestes được cứu thoát và được gửi tới vua Strophius nuôi dưỡng. Orestes và người con của Strophius, Pylades, trở thành hai người thân mật quấn quít bên nhau. Khi trưởng thành, Orestes cùng với Pylades tìm cách báo thù cho Agamemnon. Orestes đã giết chết Aegisthus và người mẹ ruột của mình, Clytemnestra. Vì giết chết người mẹ của mình, Orestes bị các nữ thần báo thù, Erinyes, theo đuổi trừng phạt và hành hạ. Orestes trở nên điên khùng, mất trí, lang thang suốt cả năm trời. Được sự bảo trợ của thần Apollo và thiện cảm của thần Athena, Orestes được trắng án ở một tòa án thần linh ở Athen. Vì Orestes được trắng án, các nữ thần báo thù Erinyes tức giận và dọa sẽ trừng phạt cả miền Atice. Nữ thần Athena xoa dịu nỗi tức giận của các nữ thần báo thù Erinyes bằng cách hiến cho các nữ thần báo thù Erinyes một hang linh thiêng và được dân chúng Atice thờ phụng quanh năm. Các nữ thần báo thù Erinyes ưng thuận ở lại cái hang linh thiêng và trở thành các thần bảo hộ cho xứ Atice. Từ đây cái tên Erinyes, tức giận, trở thành Eumenides, nhân từ bảo vệ cho miền Atice.

Tên của cuốn tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm có xuất xứ từ từ Eumenides. Đây chính là điểm gợi nhớ tới cuộc đời và số phận của Orestes. Người cha của Aue, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết, tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, trở về nhà một thời gian và sau đó đi đâu mất tích. Sự mất tích của người cha, không được tác giả dẫn giải tường minh, nhưng đối với Aue đó là lỗi của người mẹ vì người mẹ đã yêu cẩu tòa án tuyên bố người cha đã chết. Như vậy trong cuốn tiểu thuyết, người mẹ không giết người cha một cách thực tế như trường hợp của Orestes mà là giết chết trên giấy tờ. Aue luôn có cảm giác căm thù mẹ vì điểu này. Sau đó người mẹ tái giá với một người đàn ông khác. Suốt khoảng thời gian này Aue không sống cùng mẹ. Sau đấy, một lần Aue trở về thăm mẹ và người dượng, Aue đã giết chết họ. Thật ra, tác giả không viết tường minh rằng Aue đã giết họ. Ở tình huống này tác giả đã sử dụng thủ pháp vô thức và mộng mị của Aue để viết. Aue được hai người hết sức giúp đỡ và che chở, là người chị sinh đôi và người bạn Thomas. Đặc điểm này khá giống người chị Electra và người bạn Pylades của Orestes.
So với thần thoại Hy Lạp, Những kẻ thiện tâm còn đi xa hơn nữa cho Aue và người chị sinh đôi có quan hệ loạn luân với nhau, nhưng lại không cho Aue và Thomas có quan hệ luyến ái thân mật như Orestes và Pylades mà để Aue có những quan hệ đồng tính với những người khác, bù lại kết thúc cuốn tiểu thuyết Aue đã giết chết Thomas. [Quan niệm về quan hệ đồng tính ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại khác với thời kỳ hiện đại.] Nhân vật Thomas trong Những kẻ thiện tâm là một nhân vật đặc biệt, dường như là cứu tinh của Aue, một hình thức nửa thần thánh như Apollo, nửa trần tục như Pylades, trong mối quan hệ với Aue khi so sánh với Orestes. Thomas bắt buộc phải chết vì Thomas cần phải ra khỏi cuộc đời của Aue cũng giống như Apollo sẽ hết vai trò của mình khi Orestes được xóa tội. Nhưng để Thomas chết bằng bàn tay của Aue thì rất tàn nhẫn. Nhưng sự tàn nhẫn này có một lý do khác, một vấn đề thuộc về super-ego và liên quan mật thiết tới những vấn đề tiêu diệt người Do Thái đã được loại bỏ khi so sánh Những kẻ thiện tâm với thần thoại Hy Lạp.

Vấn đề Orestes rất khác với vấn đề Oedipus. Nửa đầu của Orestes cho đến khi Orestes bị các nữ thần báo thù truy đuổi khá giống với Oedipus. Tội lỗi là tội lỗi bất kể tội lỗi được thực hiện với lý do gì và phải bị trừng phạt. Nhưng nửa cuối của Orestes lại cho thấy tội lỗi có thể được ân xá với những tình tiết giảm án và sự vị tha của con người. Dường như ở đây đã có sự vắt ngang từ văn hóa Hy Lạp cổ đại tội ác - trừng phạt và văn hóa Do Thái - Thiên Chúa giáo trả thù - vị tha.

Những kẻ thiện tâm dường như là một câu chuyện về Orestes hiện đại được lồng trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai với những sắc thái khủng khiếp và sự sa đọa của super-ego, được viết trong một cấu trúc hiện đại đầy nhạc tính.

Monday, January 26, 2009

Ghi chép ban đầu về cấu trúc tiểu thuyết của Những kẻ thiện tâm

Tiểu thuyết cũng giống như một bản nhạc có cấu trúc xác định. Khi nghe một bản nhạc, thông thường người nghe bị âm thanh lôi cuốn, rung động và cảm thụ âm nhạc mà không nhất thiết phải biết đến cấu trúc của bản nhạc. Nhưng nếu như người nghe nắm bắt vững chắc cấu trúc của bản nhạc, việc thưởng thức bản nhạc sẽ đạt tới mức độ sâu sắc và quá trình cảm thụ âm nhạc sẽ trở nên tuyệt mỹ. Cũng giống như vậy, một cuốn tiểu thuyết có thể lôi cuốn người đọc và người đọc không cần thiết phải biết đến cấu trúc của cuốn tiểu thuyết mà vẫn thưởng thức được. Nhưng nếu người đọc khám phá được cấu trúc của cuốn tiểu thuyết thì việc thưởng thức cuốn tiểu thuyết sẽ trở nên sâu sắc, trọn vẹn và cực kỳ hấp dẫn. Cũng giống như bạn thăm quan một tòa lâu đài, vẻ đẹp của các phòng ốc của tòa lâu đài lôi cuốn bạn đi từ phòng này sang phòng khác. Nhưng nếu bạn không biết kiến trúc của tòa lâu đài, bạn có thể lạc lối trong đó và không thể thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp của tòa lâu đài.

Cuốn tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm của Littell có cấu trúc tương đối dễ nhận thấy. Đề mục các chương của cuốn tiểu thuyết giúp người đọc có thể xác định cấu trúc của cuốn tiểu thuyết. Các chương có tên lần lượt là: Toccata, Allemande, Courante, Sarabande, Menuet, Air, Gigue. Ngoại trừ chương đầu tiên Toccata, các chương còn lại mang tên các khúc nhạc múa và tạo thành một tổ khúc cho dàn nhạc. Air tuy không phải là nhạc múa nhưng trong các tổ khúc Air cũng được đưa vào làm tăng tính biểu cảm. Toccata thông thường không nằm trong cấu trúc của tổ khúc. Toccata đóng vai trò của một Prelude, khúc dạo đầu, của một bản Fugue. Toccata khác Prelude của một tổ khúc ở chỗ Toccata có cấu trúc của bản Fugue, có nghĩa là Toccata có cấu trúc phức điệu. Như vậy có thể thấy ở đây, chương đầu tiên, Toccata, vừa đóng vai trò của một Prelude của một tổ khúc, vừa thông báo tính chất phức điệu sẽ xuất hiện trong tổ khúc. Cấu trúc tổ khúc này rất giống các tổ khúc Baroque với những đại diện như Couperin, Rameau, Bach. Những kẻ thiện tâm, như vậy, là một tổ khúc phức điệu.

Chương đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, Toccata, cho thấy nó đóng vai trò của một Prelude, trong âm nhạc là khúc dạo đầu, trong tiểu thuyết là chương giới thiệu hay chương mở đầu. Chương này giới thiệu về nhân vật chính duy nhất của tác phẩm.
Nhưng khác với các chương mở đầu thông thường thường thấy, chương này gần như tổng kết cả cuốn tiểu thuyết, cả cuộc đời của nhân vật chính. Các ý cơ bản trong cuốn tiểu thuyết lần lượt xuất hiện trong chương này như những bè xuất hiện trong một bản Toccata. Bè về chiến tranh, về tiêu diệt người Do Thái, bè về cuộc sống riêng tư với những uẩn khúc của nhân vật. Các bè - chủ đề này cho thấy chương đầu tiên có cấu trúc khá chính xác với hình thức phức điệu của Fugue. Các bè này sẽ lần lượt được mô phỏng tái lập ở các chương sau. Sự nhắc lại nhiều lần một ý cơ bản - chủ đề hay bè - cho phép khai thác hình tượng đặc biệt sâu sắc và toàn diện với những đặc điểm, trạng thái, màu sắc khác nhau của nó. Sự tăng dần cường độ và mở rộng phạm vi của bè tạo cho tác phẩm một hình thức phức điệu có sức phát triển nội tại độc đáo. Đây chính là đặc điểm rất lôi cuốn, hấp dẫn của Những kẻ thiện tâm.

Với cấu trúc của một tổ khúc, các chương tiếp theo của cuốn tiểu thuyết cũng có cấu trúc tương phản. Trong âm nhạc Allemande có nhịp điệu chậm vừa,
Courante có nhịp điệu sinh động, Sarabande có nhịp điệu rất chậm, Gigue có nhịp điệu rất nhanh. Trong Những kẻ thiện tâm, chương hai, Allemande, khá dài, chậm rãi kể về những ngày đầu của chiến tranh trên đất Nga, về vấn đề Do Thái nảy sinh ở phần đất chiến tranh này. Chương tiếp theo, Courante, ngắn hơn nhiều kể về cuộc chiến sa lầy ở Stalingrad, như một tương phản với chương trước nó, Allemande. Chương tiếp theo, Sarabande, cũng ngắn, nhưng nhịp điệu của nó rất chậm, xoay quanh những ngày tháng vô vị dưỡng thương, kiếm việc, nhưng trong cái vô vị đó một hành vi tội ác khủng khiếp nhất đã xảy ra. Chương cuối cùng, Gigue, kết thúc rất nhanh như vừa mới bắt đầu. Cuốn tiểu thuyết kết thúc rất đột ngột như kết thúc của điệu múa Gigue. Chương thứ 5 là Menuet điệu múa vòng khá dài. Điệu Menuet lộng lẫy, trịnh trọng mang tính thượng lưu. Chương này trong cuốn tiểu thuyết trình bày những hoạt động của nhân vật chính ở tầm cao, không trực tiếp hành động dẫn đến tội ác, nhưng tính tàn bạo lạnh lùng vẫn tràn ngập các trang sách. Giữa các chương mang tính chất nhạc múa, chương thứ 6, Air, là một chuyển biến rất đặc sắc. Trong âm nhạc, Air là một hình thức ca khúc, làm nhiệm vụ diễn tả nội tâm, tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Air không có xu hướng truyền đạt quá trình diễn biến tâm lý tới tất cả sắc thái mâu thuẫn và thăng trầm của nhân vật. Air chỉ nói lên điều chủ yếu, cốt lõi, cơ bản nhất của tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Trong cuốn tiểu thuyết, chương này rất ngắn, và đúng là một khúc ca, Air, về tình cảm của nhân vật - tình yêu.

Friday, January 23, 2009

Viên tướng

Photobucket


Đây là 3 bức thư pháp về cùng một chủ đề của cùng một tác giả, Torei Enji, người Nhật ở thế kỷ 18. Tôi biết các bức thư pháp này qua blog của bác Tung. Cả 3 bức thư pháp cùng thể hiện một vòng tròn, được gọi là Viên tướng với hàng chữ Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Vòng tròn Viên tướng để diễn tả tánh không, diễn tả cái mà không thể diễn tả. Bức thư pháp đầu tiên không tạo ra ấn tượng mạnh cho tôi. Bức thư pháp thứ hai có ấn tượng mạnh hơn. Vòng Viên tướng rất mạnh mẽ, dứt khoát, như lồi trên mặt giấy. Nhưng vòng Viên tướng này không liên tục, có điểm khởi đầu và kết thúc. Bức thư pháp cuối cùng có ấn tượng mạnh nhất. Một vòng Viên tướng liên tục, bất tận, không mệt mỏi như chứa đựng trong đấy cả trời đất và cõi nhân sinh. Đây là những bức thư pháp rất kỳ lạ. Làm sao tôi có thể tiệm cận tới được cảm xúc của tác giả lúc viết? Tôi cảm thấy dường như không thể giải thích được và chỉ có thể cảm thụ mà thôi. Tôi thường nghi hoặc những trạng thái thiền, cảm thấy như ở đấy có điểm gì đó tự huyễn hoặc, nhưng xem các bức thư pháp Viên tướng này tôi cảm thấy nghi hoặc của mình có khi sai.

Vòng Viên tướng không phải là chữ mà là một hình tượng. Như vậy thư pháp không nhất thiết phải là viết chữ. Thư pháp có thể thể hiện những hình tượng như chữ. Nhưng thể hiện như thế nào và đạt được những kết quả như thế nào phụ thuộc vào tài năng của nhà thư pháp.

Thursday, January 22, 2009

Công an có thẩm quyền kiểm tra giấy phép kinh doanh không?

Nhân chuyện các ông đồ tự do ở Văn miếu bị dẹp và xem video phỏng vấn ông Phó Trưởng công an phường, tôi có câu hỏi thắc mắc về pháp luật: công an có thẩm quyền kiểm tra giấy phép kinh doanh không? Cứ như tôi nghĩ thì công an không có thẩm quyền kiểm tra giấy phép kinh doanh. Trong trường hợp cụ thể ở đây: giấy phép kinh doanh cấp cho các ông đồ sử dụng vỉa hè ở Văn miếu do Ủy ban Nhân dân phường cấp. Do đó nếu có kiểm tra giấy phép kinh doanh thì chỉ có UBND phường mới có thẩm quyền kiểm tra. Nếu tiến hành kiểm tra, UBND phường có thể mời công an phường cùng tham gia và xử lý những trường hợp vi phạm. Như vậy, nếu suy nghĩ của tôi là đúng, việc công an phường tự tiện kiểm tra giấy phép kinh doanh của các ông đồ, bất kể các ông đồ có phép hay không phép, và xử lý tịch thu các sản phẩm là hành vi lạm quyền và vi phạm pháp luật. Tôi nghĩ cùng lắm công an phường có thể kiểm tra giấy phép kinh doanh trong trường hợp khẩn cấp hay có sự ủy quyền của UBND phường. Các ông đồ tự do ở Văn miếu có thể yêu cầu công an phường trình bày tính hợp pháp của hành vi kiểm tra giấy phép kinh doanh nếu lần sau họ lại bị như thế.

Saturday, January 17, 2009

Thư pháp "Sắc xuân"

Tôi luôn cảm thấy khó khăn khi thưởng thức thư pháp. Đọc các tiểu thuyết khi viết về thư pháp cảm thấy rất thích thú. Nào là bức thư pháp như cho thấy uất hận trào ra đầu ngọn bút, nào là như một đường kiếm tuyệt luân [đường kiếm như thế nào là một đường kiếm tuyệt luân? đây là một sự so sánh giữa cái hai cái đều chưa biết và chưa hiểu]... Nhưng quả thật là đọc thế biết thế chứ tôi chưa từng được nhìn thấy một bức thư pháp nào cho tôi cảm giác uất hận trào ra đầu ngọn bút hay cảm xúc nào đó trào ra đầu ngọn bút, hay đơn giản nhất là mực đen trào ra đầu ngọn bút. Có thể tôi thực sự không cảm được thư pháp.

Như vậy hẳn thưởng thức thư pháp là thưởng thức tâm trạng của người viết chữ qua nét chữ, con chữ và nghĩa chữ. Người thưởng thức tái tạo lại cảm xúc của người viết chữ qua những gì được thể hiện trên bức thư pháp, cả về hình họa lẫn ngữ nghĩa văn chương. Nhưng có điểm rất không rõ ràng là cái cảm xúc tái tạo đó không có bất cứ một minh chứng nào để cho thấy nó đích thực là cảm xúc của người viết chữ, thậm chí nó có thể không duy nhất và cũng có thể biến đổi theo thời gian, theo tâm trạng của người thưởng thức. Có nghĩa đây chính là sự mù mờ, bất định, tiên nghiệm của nghệ thuật, những điều luôn đem lại cho tôi cảm giác bất an về nghệ thuật. về sự cáo chung của nó. Trái với nghệ thuật, khoa học luôn đem lại cho tôi cảm giác yên tâm, bình ổn vì tính logic, tính chặt chẽ và tính tiến hóa của nó.

Tôi tới Viện Hán Nôm xem triển lãm thư pháp Sắc xuân. Đây là một cuộc trưng bày nhỏ về thư pháp. Có độ khoảng hơn chục tấm thư pháp. Tôi không đếm chính xác, ước lượng như vậy. Nơi triển lãm xen lẫn các hoạt động khác của Viện Hán Nôm như trả tiền nhuận bút các bài viết đăng tạp chí nào đó của Viện. Có bàn viết để tác giả (tôi đoán thế) viết thư pháp cho khách tham quan. Có một điều tôi không thích lắm là một số bức thư pháp được viết trên giấy đỏ. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thích thư pháp mực đen giấy đỏ. Tôi thấy chúng tẻ nhạt. Tôi rất khó hình dung bức thư pháp mực đen giấy đỏ có thể treo trong nhà trừ trên bàn thờ. Tôi vẫn thích thư pháp viết trên lụa, hay trên giấy không có màu đỏ. Tôi không biết sau cuộc triển lãm các bức thư pháp viết trên giấy đỏ sẽ đi đâu, nhưng nếu vứt đi thì rất phí công sức, nhưng để công chúng mua thì cũng rất khó vì màu đỏ rất khó treo trong nhà. Tôi nghĩ vậy nhưng cũng có thể là tôi sai. Tôi nghĩ tới tính thương mại của nghệ thuật. Nghệ thuật và thương mại luôn mâu thuẫn với nhau, nhưng nghệ thuật không bán được là nghệ thuật có nguy cơ chết. Cuộc triển lãm không đề giá tiền các bức thư pháp, nên tôi không rõ các bức thư pháp trưng bày không bán hay có bán mà không đề giá. Tôi rất không thích kiểu báo chí hay viết xin chữ, cho chữ. Thậm chí có lần tôi đọc ở đâu đó một bài báo phóng viên kể chuyện tới nhà một nhà thư pháp nổi tiếng xin chữ, nhà thư pháp này bảo anh phóng viên thắp hương lên bàn thờ xin chữ. Tôi đọc mà phì cười vì sự huyền hoặc mà dường như pha màu bịp của nó. Tôi không hiểu tại sao lại có cái cơ chế xin - cho ở đây. Đấy không phải là một thứ lễ hay là một thứ phong cách. Tác giả và người mua cần phải bình đẳng trong thương vụ nghệ thuật. Nhưng ở đây có một điểm khuyết rất lớn trong thẩm mỹ thư pháp của xin -cho. Khi tôi xin một nhà thư pháp nào đấy viết cho chữ nào đấy, thì ngữ nghĩa của bức thư pháp do tôi xác định, còn thể hiện đường nét, cảm xúc viết lại do nhà thư pháp xác định. Như vậy bức thư pháp bị xé ra làm hai, cảm xúc ngữ nghĩa thuộc về tôi, cảm xúc hình họa thuộc về người viết chữ. Liệu người cho chữ có đồng cảm xúc với người xin chữ không? Khi viết chữ, người cho có cảm xúc như thế nào, có cùng mỹ cảm với người xin không? Tôi thấy rất khó có thể đồng cảm xúc.


Photobucket

Đây là một bức thư pháp tôi chụp trong triển lãm Sắc xuân. Chữ Long, Hiện long tại điền. Hiện long tại điền là hào thứ hai của quẻ Kiền, thể hiện khí thế đang lên của một con rồng như mặt trời lúc bình minh. Tôi có nhìn thấy con rồng đang bay lên không? Tôi có nhìn thấy cảm xúc của tác giả lúc viết không? Phần bên phải của chữ Long là hình ảnh con rồng bay. Phần bên trái là chữ nhục và chữ lập của chữ đồng được coi là hài âm của chữ long [tôi không chắc giải tự này có chuẩn không, nhưng hình ảnh con rồng đúng ở phần bên phải]. Thực ra tôi không thích chữ nhục viết không cân, nhưng có lẽ đây là ý đồ thẩm mỹ của người viết chữ, muốn tạo ra chút đăng đối với đuôi rồng. Một con rồng cong đuôi bò trên một cái bục, tôi hình dung như vậy. Tôi có gắng thử tìm nét chữ của tác giả, nhưng không nhìn ra. Dường như tác giả đã không viết chữ Long mà là viết rồi tô chữ Long. Đây cũng là điểm mà tôi không thích. Viết là viết chứ không phải là tô. Khi tô chữ cảm xúc của người tô như thế nào? Một công việc lặp đi lặp lại, tuy tỉ mẩn nhưng không có cảm hứng. Một con rồng bay phải là một con rồng cảm hứng.

Bà huyện trong mơ

Tôi vừa xem xong vở chèo Bà huyện trong mơ truyền trực tiếp trên VTV1. Đây là vở chèo của tác giả Trần Đình Ngôn, đạo diễn Bùi Đắc Sừ, đo đoàn chèo Trung ương trình diễn. Đây là vở chèo rất được tuy nội dung kịch bản còn sơ lược, đơn giản, chưa có đỉnh điểm cao trào kịch tính. Ở vở kịch này tôi gặp lại tính hài hước châm biếm rất sâu cay, thâm thúy của chèo truyền thống. Lâu lắm rồi tôi mới lại nhận ra tính sâu sắc của chèo tường chừng như đã là dĩ vãng. Đạo diễn vở chèo rất giỏi, đã đưa những yếu tố chèo truyền thống vào một vở chèo hiện đại, như đưa dàn nhạc chèo lên sân khấu, sân khấu mở và không sử dụng phông cảnh rườm rà. Là một vở chèo hiện đại nhưng các làn điệu chèo truyền thống vẫn được sử dụng tuy có một đoạn thuộc màn ba đã lạm dụng khá nhiều yếu tố ca kịch kiểu tân nhạc.

Điểm nổi bật của vở chèo này mà tôi thích là yếu tố hài hước châm biếm thâm thúy sâu cay. Có lẽ tác giả kịch bản đã sợ động chạm nên kịch bản đã phải nhắc đi nhắc lại đây là vở diễn, là kịch, không ám chỉ gì ngoài đời. Mặc dù vậy người xem vẫn có thể có những liên tưởng thú vị. Ở màn đầu một chị bán thịt lợn đã cho thấy trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học và tự học của chị tương đương với bằng cao cấp chính trị của Học viện Chính trị cao cấp Hồ Chí Minh. Lúc xem kịch tôi chợt nhớ tới ông Tô Huy Rứa, vốn là Giám đốc Học viện Chính trị cao cấp, bởi vì tôi hình dung ông Rứa hay nói đến các cặp phạm trù của triết học Mác Lênin như chị bán thịt lợn nói. Cũng ở màn này khi một nhân viên chính quyền nói đang điều tra một vụ tham ô nhưng chưa có kết quả vì đang tiến hành, khó lắm, chị bán thịt lợn nói không biết làm thì xuống đi, để người khác làm, đừng tham quyền cố vị để chúng bạn cười chê. Tuy câu chuyện chỉ đề cập tới cấp huyện, nhưng danh xưng Chủ tịch huyện thường được tỉnh lược gọi là Chủ tịch nên hàm ý của các châm biếm rất sâu xa và rộng mở. Tiếng cười của chèo như trong truyền thống quả là xuất sắc. Có lẽ sẽ có nhiều kẻ sẽ bầm gan tím ruột nhưng cũng không làm gì được bởi vì đấy là tiếng cười của chèo. Từ vở chèo này tôi thấy rất lạc quan về chèo ngay cả trong những chủ đề hiện đại.

Sunday, January 4, 2009

Phố hoa Hà Nội

Hôm đầu năm mới tôi đã định đi ngắm phố hoa, nhưng tới Bờ hồ thấy đông người quá tôi lại quay về. Tôi sợ những chốn ồn ào náo nhiệt. Những nơi đấy khó mà thưởng thức được những vẻ đẹp của hoa. Tôi chọn hôm sau vì nghĩ rằng hôm đấy chắc mọi người phải đi làm, không mấy ai nhàn rỗi thừa thãi thời gian như tôi. Nhưng thực tế cũng không như tôi nghĩ. Tuy bớt người hơn so với hôm mùng 1, nhưng vẫn đông người. Hóa ra Hà Nội cũng có nhiều người nhàn rỗi như tôi. Thời tiết Hà Nội rất tuyệt để đi dạo. Hơi lạnh nhưng không lạnh lắm. Hơi có chút nắng, chút gió. Trời xanh tuy không trong. Nhưng Hà Nội bụi bặm, đông đúc, ồn ào. Chẳng bao giờ tôi lại có một Hà Nội thanh vắng, yên ả như tuổi thơ của tôi nữa. Thời gian trôi đi, dường như ký ức bao giờ cũng đẹp hơn hiện tại. Tôi không có ý định đi ngắm phố hoa để tìm lại thời gian đã mất. Phố hoa ngày xưa của tôi là chỗ phố Hàng lược, là chợ hoa ngày Tết. Ngày xưa cả Hà Nội chỉ có một chợ hoa Tết. Bây giờ Hà Nội có nhiều chợ hoa Tết, và chợ hoa Hàng lược cũng đã phôi pha.

Photobucket

Phố hoa tôi đang nói đến là phố hoa ở Bờ hồ, nơi người ta thử nghiệm trình diễn một con phố toàn hoa. Báo chí mấy hôm nay nói về người Hà Nội, thực ra không biết có phải đúng là người Hà Nội không, một phiếm chỉ tạm thời gọi người Hà Nội, đã bẻ hoa, phá phố. Tôi không biết chuyện này xảy ra lúc nào, nhưng lúc tôi đến phố hoa thì không thấy hiện tượng như vậy. Nhưng đúng là có một số người vì muốn chụp ảnh không bị vướng người hay vướng dây rào đã nhảy vào bên trong dây rào chụp ảnh. Thực ra có một chút không được tổ chức tốt ở đây. Hầu như những ai tới phố hoa đều muốn chụp ảnh, nhưng phố lại nằm ngay bên đường lưu thông, xe cộ qua lại đông đúc, nên muốn chụp ảnh với cảnh rộng rất khó và dường như là không thể nếu không nhảy vào bên trong dây rào. Giữa mong muốn lưu lại một khoảnh khắc đáng nhớ, một vẻ đẹp của hoa, của phố và giữ gìn vẻ đẹp đấy, điều sau đã phải nhường chỗ cho ham muốn của con người. Một lựa chọn không hoàn hảo, nhưng dường như là một lựa chọn tinh thế.

Nhưng phố hoa không đem lại cho tôi một chút mỹ cảm nào. Tôi đi dọc suốt phố hoa mà không thể nào tìm ra nổi một ý đồ thẩm mỹ của con phố. Dường như con phố, tạm gọi như vậy, là những khoảnh trưng bày các thể loại hoa nhân tạo và một số sắp đặt không mang ý đồ thẩm mỹ. Cũng có thể phố hoa có những ý tưởng thẩm mỹ cao siêu mà trình độ của tôi không cảm nhận được. Nghệ thuật vô biên mà tôi thì không phải cái gì cũng hiểu được. Nhưng phố hoa đối với tôi thật vô cảm về thẩm mỹ. Bên cạnh đó, đa số hoa ở đấy là hoa giả. Có những bông hoa giả rất cầu kỳ và đẹp như hoa lụa, hoa đất, nhưng bày chúng ra ở một con phố tôi thấy chúng cực kỳ xấu, vô cảm, và vô hồn. Tôi lại thấy đàn bướm vàng - ngân hạnh đã gặp tôi suốt cả mùa thu. Nhưng lại là một đàn bướm giả, vô hồn, đậu trên những cành cây giả xanh xanh cong keo cứng nhắc. Tôi nghĩ miên man về người Hà Nội. Hà Nội đã nghèo nàn về tâm hồn, về mỹ cảm đến thế sao?

Photobucket