Wednesday, October 31, 2007

Vũ Như Tô

Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải
Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?
Tháp người Hời nguyên là giống Angkor!

Mải vật lộn, quên cả đài cao mộng lớn
Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi ?
Ôi khô khan! Ôi gay gắt ! Nhưng đừng vội tủi
Sức sống tràn từ ải Bắc đến đồng Nam

Than ôi ! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ?
Ta chẳng biết!
Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm
Nguyễn Huy Tưởng

Lời đề tựa cho vở kịch Vũ Như Tô. Tôi chợt nhớ đến Vũ Như Tô. Đôi khi có những điều chợt đến chợt đi, và nghĩ lại thấy cũng thật kỳ lạ. Tôi đọc Toàn thư, đọc đến dòng này:
"
Tô cũng bị quăng xác ra ngoài chợ, quan dân ai cũng chỉ trỏ xác hắn mà chê cười, có người còn nhổ nước bọt."
Lời của sử quan lạnh lùng và chân xác. Chết rồi còn bị nhổ nước bọt. Bãi nước bọt là công luận, là cái quan luận định. Có những vấn đề mà đến tận ngày nay chúng ta nhìn lại vẫn còn phân vân không rõ là phải hay là không phải. Trường hợp của Vũ Như Tô là một ví dụ. Chúng ta nhìn lại con đường mà Vũ Như Tô đang đi, tuy không còn lớp sương mù bao phủ ở đó, nhưng xung quanh chúng ta lại có những sương mù bao phủ làm cho không thể thấy được con đường. Họ đi trong sương, lớp sương giờ đã tan, còn chúng ta, vẫn đang đi trong sương, và khi ngoảnh lại nhìn, cũng không nhìn ra được. Tôi nhớ tới bài thơ Trong sương của Hesse mà có lần tôi thử dich. Tôi biết bài thơ này không trong một trường hợp đặc biệt,
bài thơ này nằm ở cuối một quyển sách học tiếng Đức, nhưng nó để lại ấn tượng rất mạnh trong tôi, mặc dù lúc đó tiếng Đức của tôi rất tồi.

Trong sương

Lạ kỳ, trong sương dạo bước
Từng cây hòn đá lẻ loi
Không cây nào thấy cây khác
Tất cả đều thành đơn côi.

Thế giới với tôi toàn bạn
Khi cuộc đời tôi sáng soi
Giờ đây màn sương bao phủ
Đâu còn thấy rõ để coi.

Chẳng ai khôn ngoan, thật thế
Nào hay biết đến tối tăm
Lặng yên và không tránh khỏi
Chia lìa tất cả chung quanh.

Lạ kỳ, trong sương dạo bước
Cuộc đời thật quá lẻ loi
Không ai biết đến người khác
Tất cả đều thành đơn côi

Hermann Hesse

Tôi nhớ tới một con người khác. Lê Tương Dực. Đây là một ông vua có tham vọng văn hóa lớn. Ông sai Lê Tung soạn Đại Việt thông giám tổng luận, một bài tổng quan về lịch sử Đại Việt. Thời ông cai trị, Vũ Quỳnh soạn Đại Việt thông giám thông khảo. Thời gian cai trị của ông vẻn vẹn chỉ có 8 năm, từ lúc 16 tuổi đến lúc bị giết chết, 24 tuổi, lại không ít can qua, vậy mà có đến hai tài liệu lịch sử quan trọng được làm ra, cho thấy tầm nhìn văn hóa sâu rộng của Lê Tương Dực. Ông còn soạn ra sách Trị bình bảo phạm, một tài liệu về chính trị và quản lý xã hội thời bấy giờ. Đỗ Nhạc soạn bài ký ở Quốc Tử giám có viết về ông:

"
Vua thông minh xứng đáng bậc vua, sáng suốt làm gương cả nước, khôi phục quy mô xây dựng cơ nghiệp của Thái Tổ, mở rộng nền móng văn giáo thịnh trị của Thánh Tông. Ban đầu đặt kinh diên, lưu tâm điển tịch. Sáng vầng sao Khuê ngang trời dọc đất thì có tập Bảo thiên thanh hạ ; mở gương trị giáo mẫu mực xưa nay thì có tập Quang thiên thanh hạ
. Thánh học ngày càng cao minh, thánh đức ngày càng thuần tuý. Hơn nữa, đến nhà Thái học hỏi về đạo trị nước, ra nơi điện đình thi chọn bọn học trò, then máy cổ võ lại càng chu đáo lắm. Đã sai quan chọn bọn học trò, then máy cổ võ lại càng chu đáo lắm. Đã sai quan trùng tu Quốc tử giám và làm mới nhà bia, lại nghĩ tới hai khoa Ất Sửu, Mậu Thìn chưa có dựng bia, liền sai quan khắc bia soạn ký để dựng lên. Như vậy có thể thấy được cái ý tôn sùng đạo học, khuyến khích hiền tài sâu sắc dường nào!"

Vậy mà không biết tại sao dân gian gọi ông là vua lợn, là đầu mối của loạn lạc và làm đổ nát vương triều nhà Lê.

Monday, October 22, 2007

Tôi sẽ đọc lá thư của Huỳnh Khương An

Đây là bài trên trang Diễn Đàn. Tôi copy về làm tư liệu.
-----------------------------------------------------------------

Ngày 22 octobre,
tôi sẽ đọc lá thư của Huỳnh Khương An

Alain RUSCIO

Lời mở đầu :

Tổng thống Pháp, Nicolas Sarkozy, đã yêu cầu các giáo sư sử học, tới ngày 22 tháng mười này, đọc cho học sinh nghe lá thư tuyệt mệnh của Guy Môquet, bi xử bắn ngày 22.10.1941. Giới giáo chức phản ứng nhiều cách khác nhau.

Về phần tôi, nhân dịp này, tôi muốn nhắc lại – và điều này chắc nhiều người không biết – rằng, cùng ngày hôm ấy, một người Việt Nam cũng đã đổ máu cho nước Pháp 1.


Ngày 22 tháng mười, tôi sẽ đọc lá thư của Huỳnh Khương An... không phải cho học trò, bởi vì tôi đã ra khỏi ngành giáo dục từ nhiều năm rồi. Nhưng, vâng, tôi sẽ đọc lá thư của Huỳnh Khương An, một người Việt Nam yêu nước, một người cộng sản Pháp và Việt Nam. Tôi sẽ đọc cho người thân, cho bạn bè, và, ừ nhỉ, cho cả những người tham gia Hội nghị hợp tác Pháp-Việt lần thứ VII, sẽ khai mạc tại Montreuil, may thay, vào đúng ngày 22 tháng mười này.

Huynh gì cơ ? Chẳng mấy người Pháp, chẳng mấy nhà sử học, chẳng mấy đồng chí cộng sản biết đến tên anh.

Vậy mà giữa anh và Guy Môquet, có ít nhất hai điểm tương đồng : họ là cộng sản và họ bị bắt làm con tin và, ngày 22.10.1941, họ bị xử bắn ngày 22.10.1941. Đối với Guy, An là một "ông già". Những 29 tuổi mà !

Sinh tại Sài Gòn, tại đất nước Việt Nam mà bọn thực dân cứ muốn gọi là Indochine, Huỳnh Khương An sang Pháp, tới học ở Lyon. Anh học giỏi, sắp sửa trở thành giáo sư Pháp văn tập sự. Và tham gia tận tình vào sinh hoạt chính trị Pháp. Đảng viên Đảng cộng sản Pháp, bí thư Đoàn sinh viên Cộng sản vùng Lyon, anh hoạt động rất mạnh, nhất là trong Hội những người bạn của Liên Xô, bên cạnh người bạn đời của mình là Germaine Barjon. Năm 1939, Đảng Cộng sản bị cấm, An hoạt động trong vòng bí mật.

Anh được bổ nhiệm tại Trường trung học Versailles. Chính tại Versailles mà anh bị bắt (các nguồn lịch sử không nhất trí về thời điểm : tháng ba hoặc tháng sáu 1941), rồi đưa đi giam giữ ở Chateaubriant. Những gì xảy ra sau đó, kinh khủng thế nào, thì mọi người đều biết.

Đây là bức thư tuyệt mệnh của Huỳnh Khương An :

« Hãy can đảm lên, em yêu của anh. Đây chắc là lần cuối cùng anh viết cho em. Ngày hôm nay, anh sẽ lìa đời. Anh và các bạn, khoảng hai mươi đồng chí, đang bị tạm giam trong một gian nhà trống, sẵn sàng hy sinh trong tư thế dũng cảm và nhân cách. Em sẽ không hổ thẹn vì anh. Em sẽ cần rất nhiều dũng cảm để sống, nhiều hơn là anh cần để chết. Nhưng nhất định em phải sống. Bởi vì con, đứa con trai bé nhỏ của chúng ta ; khi nào gặp lại con, em hãy hôn nó cho anh, thật chặt. Từ nay, em phải sống bằng kỉ niệm, những kỉ niệm tươi đẹp của chúng ta, năm năm trời hạnh phúc ta đã sống với nhau. Vĩnh biệt, em yêu ».

Ở Paris, tại nghĩa trang Père-Lachaise, có tượng đài kỉ niệm các liệt sĩ Chateaubriant. Dưới dòng tên họ HUYNH KHUONG AN, chỉ có một danh từ, lỗi thời : Annamite.

Tôi xin nhắc lại sự kiện này để chúng ta cùng suy ngẫm. Sự hiện diện của người dân một nước thuộc địa, của một người nhập cư, bên cạnh những liệt sĩ người Pháp, phải chăng là cách để Lịch sử đưa mắt cho chúng ta ? Phải chăng đó là một biểu tượng ? Chế độ Vichy, là kẻ đã giao nộp họ, và bọn Nazi đã giết họ, chắc hẳn đã nhìn "tên ngoại quốc" lộn lạo trong "bọn khủng bố" bằng con mắt miệt thị. Chúng có đòi xét DNA (*) di truyền của anh để có quyền chết cho nước Pháp ?

Tôi không chủ trương tẩy chay việc đọc cho học sinh lá thư của Guy Môquet. Song chúng ta hãy đọc, như để trả lời cho nạn bài ngoại đang ngoi lên (lần nữa), như một lời đồng vọng, lá thư của một người Việt Nam, một người ngoại quốc mà cũng là người anh em của chúng ta.


Alain RUSCIO


1 Tôi dựa vào mục tiểu sử rất súc tích của Michel Dreyfus, « Huynh Khuong An, dit Luisine », trong Dictionnaire biographique du mouvement ouvrier français, Paris, Éditions de l'Atelier, 1988, do Claude Pennetier chủ biên.

(*) Dư luận đang phản đối việc chính quyền Sarkozy đề ra đạo luật dùng xét nghiệm DNA để cho phép hay từ chối đoàn tụ gia đình của người nhập cư (chú thích của DĐ).





Du Nội Duyên san và Báo Kính tự

Nội Duyên sơn và Bảo Kính tự


Ai đó nói rằng cuộc đời là những chuyến đi. Có những chuyến đi không định trước, những chuyến đi như những cơ duyên. Tôi muốn bỏ vào núi xem mùa thu, xem những chiếc lá vàng lả tả trong ánh hoàng hôn. Đêm nằm nghe gió thu thổi, cứ ngỡ mùa thu đã đến rồi. Chợt nhớ mấy câu thơ đã có lần thử dịch "Khách tâm kinh lạc mộc / Dạ tọa thính thu phong / Triêu nhật khan dung mấn / Sinh nhai tại kính trung", "Lá rụng ghê lòng khách / Đêm ngồi nghe gió thu / Sáng ngày soi mái tóc / Gương chứa bến đời ru". Vào núi mới biết mùa thu còn chưa tới. Dãy núi có cái tên lạ, Nội Duyên, có mười hai thác nước, không phải là mười hai bến nước, cũng không phải là thập nhị nhân duyên. Nội Duyên là kéo dài mãi, bất tận ở bên trong. Không biết là bất tận trong núi hay bất tận trong lòng du khách. Dưới chân núi là Bào Kính tự, một ngôi chùa có từ lâu lắm, nhưng mới được dựng lại. Đọc thấy chữ Bào Kính chợt nhớ tới câu chuyện "Hà xứ nhạ trần ai". Câu chuyện không xảy ra ở đây, nhưng cứ tưởng như vậy. Tưởng gặp được sơn tăng, nhưng không thấy có ai, mà nếu có gặp đã biết nói gì. Những cây sồi, cây tùng che khắp các lối đi, không biết tự thủa nào. Đi tìm mùa thu, nhưng mùa thu chưa tới. Đi nhặt lá vàng, lá vàng còn chưa rơi. Chỉ có những thác nước, khe nước róc rách, rì rầm không mệt mỏi như đang kể chuyện ngàn xưa. Lý Bạch ngày xưa tới Thu Phố làm ra 17 bài cổ phong về mùa thu, về Thu Phố. Tôi một mình tới Phố Hạng, "chung lưng làm một chuyến đi đày", chẳng viết được gì. Người xưa sao phong nhã vậy!

Tương Sinh bộc
(Đây là Tương Sinh bộc)


Yến Sơn bộc
(Đây là Yến Sơn bộc)

Tuesday, October 9, 2007

Vẻ đẹp của vật lý

Cách đây gần hai tuần tôi có nhắc đến hiệu ứng từ trở khổng lồ khi viết về khả năng lãng quên, về tương lai đánh mất khả năng lãng quên của con người. Hôm nay Giải thưởng Nobel Vật lý vinh danh chính hiệu ứng từ trở khổng lồ mà tôi nói đến. Truyền thông lại có dịp tán dương các khám phá vĩ đại, những ứng dụng to lớn đã mang lại biết bao tiện ích cho con người. Chắc không ai sẽ nói đến cái tương lai u ám học lãng quên đấy.

Tôi sẽ không nói đến những lợi ích hay cái tương lai có thể xảy ra kia. Tôi nói về vẻ đẹp của vật lý, cái vẻ đẹp mà không mấy ai cảm nhận được. Hiện tượng điện và từ được con người biết tới từ thời cổ đại. Phát minh la bàn của người Trung quốc là một ví dụ về từ tính. Việt sử còn ghi chuyện bộ tộc Việt Thường dâng chim trĩ trắng cho nhà Chu và lạc mất đường về. Nhà Chu phải làm xe chỉ nam để đưa đoàn sứ thần về nước. Vẻ đẹp cổ điển của điện từ được biểu diễn qua các phương trình Maxwell. Đây là một trong các phương trình đẹp nhất trong lịch sử tri thức của nhân loại. Chúng liên hệ những bản chất điện và từ, thoạt nhìn có vẻ khác nhau vào một thể thống nhất. Tuy vậy, bản chất của từ tính phải đến tận thế kỷ 20 mới được hiểu một cách toàn diện. Bản chất của từ tính là một bản chất lượng tử. Một khái niệm lượng tử mới, spin, được đưa ra. Spin cùng với điện tích tạo thành hai mặt, mang tính từ và điện cho các hạt tải, những điện tử. Hiệu ứng từ trở chính là hiệu ứng thể hiện hai đặc tính cơ bản, điện tích và spin, đồng thời. Nhưng thông thường hiệu ứng từ trở này nhỏ, không tạo ra những đặc điểm nổi trội. Một đặc tính không tạo ra được sự khác biệt lớn, không tạo ra những chấn động, mãi mãi không là vẻ đẹp.Từ trở khổng lồ là một hiện tượng nổi trội, một vẻ đẹp trở nên rực rỡ đã tạo ra những khác biệt lớn, những khác biệt chấn động, cực kỳ cuốn hút mà chỉ ở thế kỷ 20 mới có khả năng tạo ra và khám phá. Bởi vì nó không tồn tại tự nhiên, mà là do con người tạo ra bằng những kỹ thuật lớp mỏng, mỏng hơn cả cánh bướm,
hơn lớp nước hồ thu, và hơn cả làn môi của người con gái. Sự mỏng manh như vệt nắng đầu thu đấy lại tạo ra được hiện tượng cách trở khổng lồ. Thiên nhiên đã lồng gì vào trong khối óc con người, thật không thể biết được và không thể tưởng được. Chỉ vẻ đẹp là hiện thực và dễ cảm.

Giải thưởng Nobel vật lý năm nay có đóng góp của một con người đất Việt. Đó là F. Nguyen Van Dau. Tôi không biết ông là ai, nhưng họ Nguyen chắc chắn là họ của một người Việt Nam. Nhìn thấy tên người Việt Nam giữa những đồng tác giả cho công trình được giải thưởng Nobel, cho dù đóng góp có nhỏ bé thế nào đi chăng nữa, không khỏi không xúc cảm. Trên con đường đi tìm những vẻ đẹp tự nhiên đấy, những dấu chân Việt đã bắt đầu lưu dấu.

Friday, October 5, 2007

Ôn Đình Quân: Thương sơn tảo hành

商山早行

晨起動征鐸
客行悲故鄉
雞聲茅店月
人跡板橋霜
槲葉落山路
枳花明驛牆
因思杜陵夢
鳧雁滿迴塘
溫庭筠

Thương sơn tảo hành

Thần khởi động chinh đạc
Khách hành bi cố hương
Kê thanh mao điếm nguyệt
Nhân tích bản kiều sương
Hộc diệp lạc sơn lộ
Chỉ hoa minh dịch tường
Nhân tư Đỗ Lăng mộng
Phù nhạn mãn hồi đường
Ôn Đình Quân


Sớm đi ở Thương sơn

Mờ sớm chuông khua rộn
Người đi thương cố hương
Điếm tranh gà gáy nguyệt
Cầu ván khách in sương
Lá hộc rụng rơi lối
Hoa gai rực rỡ tường
Đỗ Lăng hoài giấc mộng
Le nhạn đầy đê đường.
(Đông A dịch)

Bài thơ này tôi dịch cũng đã lâu rồi. Trong hoài niệm về thời gian đã mất tôi lục tìm lại. Tôi dịch bài thơ này vì có một lý do rất đơn giản. Tôi không tìm thấy bài thơ này trong các quyển sách về Đường thi tiếng Việt mà tôi được đọc. Tôi không biết tại sao người ta lại không đưa bài thơ này vào các quyển sách đó. Giở các quyển sách đó bao giờ cũng thấy "Giang hải tương phùng khách hận đa", đọc mãi phát chán. Tôi đọc truyện Kiều, biết được câu thơ "Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương" từ câu thơ của Ôn Phi Khanh. Tôi lại càng ngạc nhiên, sao bấy lâu nay đọc truyện Kiều mọi người thấy chú giải "Kê thanh mao điếm nguyệt / Nhân tích bản kiều sương" là đầy đủ, thỏa mãn hay sao? Tôi muốn biết nhiều hơn. Tôi muốn biết cả bài thơ có hai câu thơ đấy. Lúc đấy chưa có Google, chưa có Toàn Đường thi bản điện tử, tìm được bài thơ này của Phi Khanh không dễ chút nào. Một lần lang thang trên mạng, tôi tìm được bản chữ Hán của bài thơ này. Tôi không còn nhớ ở trang nào, nhưng là một trang giới thiệu các nhà thơ thời Đường, tuyển chọn khá nhiều, nhiều hơn Tam bách thủ. Tôi dịch bài thơ này khá nhanh. Bản dịch lần đầu tôi đã dịch "Cầu ván người in sương". Trong cảm thụ của tôi, "Cầu ván người in sương" đọc lên nhịp điệu rất êm dịu, tuy thanh của tiếng "người" và "tôi" cùng thanh bằng, hơi trái luật thanh hài hòa thông thường. Sau đó bản dịch được lưu trữ trên mạng ở một nơi, mà giờ tôi không nhớ là các bạn ở đấy biết được bản dịch của tôi từ nguồn nào. Một bạn phụ trách ở đấy đã đề nghị tôi sửa lại chữ "người" thành chữ "khách". Tôi đã đồng ý sửa lại, thành bản dịch như ngày nay, vẫn còn lưu trong cõi ảo này.

Thursday, October 4, 2007

Lục Du: Lâm An xuân vũ sơ tễ

臨 安 春 雨 初 霽

世 味 年 來 薄 似 紗
誰 令 騎 馬 客 京 華
小 樓 一 夜 聽 春 雨  
深 巷 明 朝 賣 杏 花
矮 紙 斜 行 閑 作 草  
晴 窗 細 乳 戲 分 茶
素 衣 莫 起 風 塵 嘆  
猶 及 清 明 可 到 家
陸游

Lâm An xuân vũ sơ tễ

Thế vị niên lai bạc tự sa  
Thùy linh kỵ mã khách kinh hoa
Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ  
Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa
Nụy chỉ tà hành nhàn tác thảo  
Tình song tế nhũ hý phân trà
Tố y mạc khởi phong trần thán  
Do cập Thanh minh khả đáo gia
Lục Du

Mưa xuân mới tạnh ở Lâm An

Năm tới vị đời mỏng tựa sa
Ai xui ruổi ngựa khách phồn hoa
Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng
Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra
Giấy xấu nét xiên đành viết thảo
Song hừng búp nhỏ bỡn pha trà
Áo tơ gió bụi than đừng nổi
Kịp đến Thanh minh trở lại nhà
(Đông A dịch)



"Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ..."

Nguyễn Tuân có kể thú tao nhã của một người khi đọc cổ thi cứ phải thắp nến bạch lạp. Tôi không có cái phong nhã đó. Nhưng những câu thơ cổ xưa đấy cứ phải đọc bằng âm Hán-Việt mới cảm được phong vị của chúng. "Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ", gác nhỏ một đêm nghe mưa xuân. Uất Đạt Phu khi viết về mưa đã nhắc tới câu thơ này. Cổ Long cũng đề câu thơ này lên thanh loan đao cong cong. Cổ Long viết câu thơ này trên thanh loan đoan ngụ ý về một người con gái. Tôi nghĩ về Lục Phóng Ông. Câu thơ của ông có ngụ ý về một người con gái nào không? Ông viết bài thơ này trong một mùa xuân, điều đó hẳn rồi. Song tôi cứ nghĩ ông viết khi mùa xuân vừa mới sang. Xuân sang với họ Lục phỏng còn hứng khởi gì khi nơi vườn Thẩm "thương tâm kiều hạ xuân ba lục; tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai", khi làn sóng xuân xanh biếc dưới cầu lại là nơi từng soi bóng cánh hồng kinh sợ. Một bóng hồng lẻ loi kinh sợ trên dòng nước biếc, một bóng người chong đêm trên gác nhỏ nghe mưa. Sao tất cả cứ phải trong một mùa xuân, trong một ngày xuân vừa mới đến? Ôi mùa xuân, "mùa xuân đã qua bao giờ?", để tiếng mưa rơi không còn là tiếng mưa nữa, mà đã là tiếng mưa xuân, tiếng mưa không rào rào của mùa hạ, không quạnh hiu của mùa thu, không lạnh lẽo của mùa đông. Tiếng mưa xuân, tiếng mưa nhỏ nhẹ ấm áp đó, có phải chăng đúng là tiếng mưa của tự nhiên hay đó là tiếng mưa lòng như những giọt lệ nhỏ nhẹ ấm áp âm thầm đổ trên gác nhỏ tịch liêu? Vườn Thẩm không còn trong thơ nữa, nhưng tôi vẫn thấy bóng hình vườn Thẩm trên gác nhỏ một đêm nghe mưa xuân.

PS: Đoạn văn trên tôi từng đăng ở một forum. Bây giờ có bạn nhắc đến, tôi chợt nhớ tới. Nhớ lại những nơi tôi đã từng qua, những dấu vết còn lại. Bài thơ này tôi dịch cũng vào một tiết xuân, trong một phòng trọ ở một nơi giá lạnh. Mỗi khi đọc lại các bản dịch của mình, tôi đều cố nhớ lại khung cảnh mà tôi tiến hành dịch. Mỗi một bản dịch như dấu bước chân nơi tôi từng qua. Giờ đăng lại ở đây như một hồi tưởng về những tháng ngày mờ xa trong dĩ vãng. Khi mở đầu viết blog, tôi có dẫn câu nói trong Luận ngữ "Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?", và vẫn luôn chờ những niềm vui nho nhỏ như vậy.