Sunday, March 29, 2009

Tân di và mộc liên

Tân di và mộc liên khá giống nhau. Nhưng mộc liên trông giống hoa sen hơn là tân di. Tân di trông giống hoa gạo nhưng không đỏ. Tôi nghĩ người ta hay lẫn lộn hai loại hoa này. Tôi vẫn không hiểu sao Bạch Cư Dị lại bảo mộc liên nở hoa vào mùa thu. Vương Duy có bài thơ Tân di ổ, tôi nghĩ tân di ở bài thơ này phải là mộc liên. Bài thơ Tân di ổ như sau:

Mộc mạt phù dung hoa
Sơn trung phát hồng ngạc
Giản hộ tịch vô nhân
Phân phân khai thả lạc

Thơ Vương Duy rất súc tích và khó dịch. Tôi dịch tạm như sau:

Đầu ngọn đóa phù dung
Giữa non rộ cánh hồng
Chốn khe người vắng lặng
Hoa nở rụng tưng bừng

Tôi mới chỉ thấy tân di trắng, chưa thấy tân di đỏ. Mộc liên có loại trắng, có loại hơi màu tía, người ta gọi là tử mộc liên. Cả tân di lẫn mộc liên đều nở vào cuối xuân.

Photobucket
Mộc liên trắng

Photobucket
Mộc liên tía

Photobucket
Tân di

Friday, March 27, 2009

Hải đường

Ở Việt Nam gần đây có một loại hoa Tết nhập về từ Đài Loan hay Trung Quốc, gọi là mai đỏ. Lúc mới nhìn tôi cứ tưởng là hải đường Nhật. Nhìn kỹ thì không phải. Hài đường Nhật hoa chỉ có 5 cánh, màu đỏ hay trắng. Nở cùng dịp với mộc liên, tân di, anh đào. Hải đường này ở Nhật không gọi là hải đường mà gọi là mộc qua. Cái tên này cũng hơi kỳ vì "qua" là dưa. Entry trước có nói về thu hải đường. Không biết tại sao hai loại hoa này lại cùng có tên là hải đường. Chúng rất khác nhau. Ở Việt Nam cũng có người nhầm hoa trà là hải đường. Nguyễn Du có viết: "Hải đường mơn mởn cành tơ / Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng". Tôi cứ đợi chờ ngày mưa ngắm xem hoa hải đường như thế nào mà chưa được. Lúc có mưa thì hoặc là quên mất hoặc là hoa đã tàn.


Photobucket

Đây là hải đường trắng

Photobucket

Đây là hải đường đỏ

Photobucket

Còn đây là mai đỏ tôi chụp ở chợ hoa Tết 2009

Saturday, March 21, 2009

Thu hải đường

Đọc Phi hồ ngoại truyện của Kim Dung sẽ thấy có một loại hoa rất độc tên là thất tâm hải đường, mỗi cánh hoa có bảy chấm đỏ. Kim Dung viết chậu hoa thất tâm hải đường này trông rất giống thu hải đường. Tôi không biết thất tâm hải đường có thật không, nhưng thu hải đường là có thật. Cái tên thu hải đường nghe rất êm dịu và mỹ miều.

Tôi nhớ như vậy vì hôm qua có một cây hoa tôi không biết tên. Bạn đọc blog của tôi cho biết là thu hải đường. Tôi mới chợt nhớ là hồi phố hoa ở Hà Nội, tôi có đi xem. Có mấy chậu hoa tôi không biết tên và tôi có hỏi mấy người bảo vệ tên hoa, nhưng họ đều không biết. Tôi có chụp ảnh lưu lại, và giờ đây tôi biết chúng là thu hải đường.

Quảng quần phương phổ chép thu hải đường thành phụ lục của hải đường. Trong đó có bài thơ Vịnh thu hải đường của Du Uyển Luân đời nhà Minh:

Bạc la sơ thí khiếp phong thê
Tiểu dạng hồng trang trước vũ đê
Nhất giả yêu nhiêu miêu bất tựu
Phi quan Tử Mỹ bất năng thi

Tôi dịch thành thơ như sau:

Lụa là ướm thử lạnh ghê chưa
Nhỏ nhắn chuốt hồng nép dưới mưa
Ví phỏng mỹ miều không tả nổi
Trừ phi Tử Mỹ chẳng nên thơ


Photobucket

Photobucket

Thu hải đường ở phố hoa Hà Nội (2009)

Mộc liên lại nở

Photobucket


Mộc liên lại nở. Một năm đã trôi qua mà chẳng làm được gì. Rong chơi khắp chốn. Chẳng mấy chốc nữa là lại tiết "phong phiêu vạn điểm". Tôi tính thời gian theo hoa nở, hoa tàn. Giở Quảng quần phương phổ thấy bài thơ tuyệt cú của Bạch Cư Di viết về mộc liên:

Như chiết phù dung tài hạn địa
Tự phao thược dược quải cao chi
Vân mai thủy cách vô nhân thức
Duy hữu Nam Tân Thái thú tri

Tôi dịch bài tuyệt cú này như sau:

Như bẻ hoa sen trồng đất cạn
Tựa tung thược dược mắc cành cây
Ẩn mây xa nước không người biết
Chỉ có Nam Tân Thái thú hay

Tôi không biết Bạch Lạc Thiên làm Thái thú khi nào. Chẳng biết có phải là lúc làm Tư mã ở Giang châu đã lưu lại một Tỳ bà hành buồn bã. Có lẽ không phải tự nói về mình. Người xưa đi về phương nam thấy hoa, tôi ngày nay lại ngược phương bắc để nhận ra mỗi năm gặp lại cố tri.

Tôi rất thích quyển Quảng quần phương phổ. Đây là một bách khoa toàn thư về cây, hoa, quả của Trung Quốc. Nhưng nét đặc sắc của quyển sách này là trích dẫn rất nhiều thơ từ. Một bách khoa toàn thư đậm chất văn học thi ca.

Nhân tiện nói về hoa, tôi thấy ở nơi làm việc có một loại hoa trồng cảnh trong nhà. Tôi không biết là hoa gì. Trông lá cành như cây bí ngô. Có ai biết tên cây hoa này không? Ảnh ở dưới đây

Photobucket Photobucket

Tuesday, March 17, 2009

Ai đã đổi tên chùa Tiêu?

Photobucket

Tôi xem video clip chương trình Thăng Long nhân kiệt phát trên sóng truyền hình VTV và phát hiện tên chùa Tiêu (Tiêu sơn tự 消山寺, xem hình chụp ở trên) được viết khác với thư tịch cổ mà tôi biết. Thoạt tiên tôi nghĩ những người làm chương trình đã không thông hiểu chữ Hán viết sai nên đã phê phán oan họ. Sau đó tác giả chương trình đã trả lời tôi rằng chữ "tiêu" (
) đã được viết đúng như ở trên chùa. Để chắc chắn tôi đã kiểm tra cách viết Tiêu sơn tự ở Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mụcHoàng Việt dư địa chí (xem ảnh chụp ở dưới). Cả ba tài liệu này tôi đều lấy từ thư viện của Vietnamese Nôm Preservation Foundation. Tất cả các tài liệu này đều cho tên của Tiêu sơn tự như nhau: 蕉山寺. Chữ "tiêu" (蕉) này chính là chữ "tiêu" trong từ "ba tiêu" (芭蕉) có nghĩa là cây chuối. Khi dịch Thiền uyển tập anh ra tiếng Việt, ông Lê Mạnh Thát đã nhận thấy tên gọi "Tiêu sơn" chính là "Ba sơn" và cũng chính là "Ba tiêu sơn". Ông Lê Mạnh Thát đã căn cứ vào Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư: Việt sử lược chép Lý Công Uẩn dấu sư Vạn Hạnh ở núi Ba sơn (), còn Đại Việt sử ký toàn thư chép Lý Công Uẩn dấu sư Vạn Hạnh ở núi Tiêu sơn (蕉山). Như vậy tên gọi chủa Tiêu trong lịch sử là nhất quán với chữ tiêu 蕉. Không biết tự bao giờ tên chùa Tiêu bị đổi thành 消山寺. Chùa Tiêu là di tích văn hóa lịch sử quốc gia. Vậy không biết Cục Di sản văn hóa, Sở Văn hóa Du lịch Thể thao Bắc Ninh có biết chuyện đổi tên này không và tại sao lại có thể để tên chùa bị thay đổi một cách tùy tiện trái với lịch sử và văn hóa như vậy?

Photobucket

Đây là trang sách có giải thích Tiêu sơn tự trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tiêu sơn tự được giải thích là Trường liêu tự.

Photobucket

Đây là trang sách trong Hoàng Việt dư địa chí về núi Tiêu sơn.


Friday, March 6, 2009

Đền Yasukuni

Photobucket


Nhiều người biết tới ngôi đền này. Hàng năm báo chí Nhật lại ồn ào chuyện Thủ tướng Nhật có nên tới viếng ngôi đền này không. Trung Quốc và Hàn Quốc lại chuẩn bị phản đối Thủ tướng Nhật tới viếng đền này. Một đồng nghiệp người Nhật hỏi tôi Chính phủ Việt Nam có phản đối Thủ tướng Nhật tới viếng đền Yasukuni không? Tôi trả lời rằng chưa bao giờ phản đối. Anh bạn đồng nghiệp nói rằng báo chí Nhật đưa tin cứ như cả châu Á phản đối.

Cái tên Yasukuni không gợi mở một điều gì cả. Nhưng nếu đọc nó theo âm Hán Việt thì ý nghĩa của tên đền rõ nét hơn: Tĩnh quốc thần xã. "Tĩnh quốc" là làm cho đất nước yên bình. Hai chữ "tĩnh quốc" được lấy từ Tả truyện, năm Hi Công thứ 23, khi Tử Văn trả lời: "Ngô dĩ tĩnh quốc dã". (Tôi làm yên bình đất nước). Thần xã là cách gọi nơi thờ phụng của người Nhật theo Thần đạo, tức là một loại đền. Ngôi đền trước đây mang tên "Đông kinh chiêu hồn xã", sau đó được đổi thành 'Tĩnh quốc thần xã".

Photobucket

Yasukuni thờ phụng các quân nhân Nhật hy sinh trong các cuộc chiến tranh, đặc biệt trong Thế chiến thứ 2. Có những tội phạm chiến tranh cũng được đưa vào đền thờ phụng. Và đấy chính là những điểm tạo ra tranh cãi và bất đồng. Dường như đối với người Nhật, bất kỳ ai hy sinh phụng sự cho đất nước đều có thể thờ phụng. Có thể họ là những người chưa được tốt theo một nghĩa nào đấy. Có thể họ là tội phạm chiến tranh. Nhưng tất cả họ đều hy sinh vì phụng sự tổ quốc. Có lẽ cái tên "chiêu hồn xã" ngày xưa nói đến điều này. Nói đến "chiêu hồn" chắc hẳn sẽ không ai phản đối. Tốt, xấu, thiện, ác đều đã chết và đều xứng đáng để được chiêu hồn. Khi chưa biết cái tên "Tĩnh quốc" được lấy từ Tả truyện tôi cứ nghĩ "tĩnh" ở đây là chỉ nơi yên nghỉ của những người đã khuất. [Ôi, mỗi cái tên chữ Hán, nếu không biết gốc tích của nó thì thật chẳng khác nào sa vào chốn u minh]. Cái tên rất sâu xa và súc tích. Những người đã đem lại sự yên bình cho đất nước. Chiến tranh như một nghĩa đối nghịch với yên bình. Nhưng chiến tranh lại có thể đem lại sự yên bình. Hai mặt đối lập nhau nhưng lại khá thống nhất. Cũng chính ở đây, những bất đồng giữa các quốc gia sẽ nảy sinh. Sự yên bình cho đất nước này lại có thể là nguồn gốc đau khổ, chết chóc cho đất nước khác. Đối diện với lịch sử luôn là một vấn đề khó khăn. Anh có cách nhìn về lịch sử của anh, tôi có cách nhìn về lịch sử của tôi, và chẳng bao giờ là một. Thoạt nghĩ có lẽ mỗi người, mỗi quốc gia cứ giữ cho mình một lịch sử, lịch sử của mình. Nhưng chính ở chỗ này, đa lịch sử không giải quyết được lịch sử, trở nên hỗn loạn khi một cá nhân chuyển từ một lịch sử này sang một lịch sử khác, tức là không có những điểm quy chiếu để ổn định cả về cá nhân lẫn về lịch sử, và không tạo ra được sự thông hiểu giữa các con người, giữa các dân tộc. Đi tìm một lịch sử thống nhất lại cũng là một việc vô cùng khó khăn, và không biết có hiện thực không.