Monday, June 30, 2008

Tên tôi là đỏ

Tôi đang định đọc cuốn Tên tôi là đỏ của Pamuk. Vừa giở bản dịch tiếng Việt của Phạm Viên Phương và Huỳnh Kim Oanh ra đọc thì thấy khó chịu quá, không muốn đọc nữa. Bản dịch tiếng Việt được dịch từ bản dịch tiếng Anh. Chuyện này cũng không sao. Nhưng các dịch giả này lại có sáng kiến đem dịch lại một số danh từ, được gọi cho tên người trong tiểu thuyết, từ tiếng Anh ngược lại sang tiếng Thổ bằng từ điển Anh-Thổ để "tôn trọng bản sắc Thổ Nhĩ Kỳ". Thế cũng chưa sao, nếu họ tra Google mất vài phút, tìm bản mục lục tiểu thuyết bằng tiếng Thổ thì đã không bị tam sao thất bản. Cứ "I am called black" sang tiếng Việt biến thành "Tôi được gọi là Siyah". Nếu ai không đọc Đôi lời của những người dịch thì chẳng thể nào hiểu nổi Siyah là đen. Nhưng khốn nỗi, Siyah không phải là từ mà Pamuk đã sử dụng. Ông dùng từ Kara, "Benim Adim Kara", có nghĩa là Tôi tên là đen. Hơn nữa, đã muốn đổi các tên sang tiếng Thổ, sao cái nhan đề "Tên tôi là đỏ" không dịch là "Tên tôi là Kirmizi" đi? Không biết biến Kara thành Siyah như vậy là có tôn trọng tác giả lẫn "tôn trọng bản sắc Thổ Nhĩ Kỳ" không? Không biết có bao nhiêu tờ báo, bao nhiêu nhà nghiên cứu phê bình văn học đã đọc bản dịch này, viết điểm sách, bình luận, phê bình mà không phát hiện ra lỗi này. Ôi chẳng lẽ tất cả cũng chỉ là một đám giá áo túi cơm, một bầy mù tịt, cứ chàng Siyah hay sao?

Xem mục lục bản tiếng Thổ mới thấy Pamuk đặt tên cho các chương rất nhất quán: Benim Adim Kara (tôi tên là đen) giống như nhan đề của tiểu thuyết Benim Adim Kirmizi (tôi tên là đỏ), cũng giống y trang như tên của chương 31, Benim Adim Kirmizi. Còn cấu trúc "tôi được gọi là ..." trong tiểu thuyết có dạng "Bana .... Derler", ví dụ như "I am called "butterfly"" nguyên tiếng Thổ là "Bana Kelebek Derler".

Pamuk hiện có 3 tiểu thuyết được dịch sang tiếng Việt, thì một quyển dịch từ tiếng Anh, một từ tiếng Đức, một từ tiếng Nga. Đúng là trăm hoa đua nở.

Monday, June 23, 2008

Tarkovsky: Thời gian chuyến đi (II)

Trong bộ phim tài liệu này, Tarkovsky trả lời một số câu hỏi liên quan đến điện ảnh và một số cảm nghĩ của ông. Bộ phim này hơi kỳ dị ở chỗ ngôn ngữ sử dụng trong phim là tiếng Ý và tiếng Nga lẫn lộn với nhau. Những chỗ Tarkovsky nói thì sử dụng tiếng Nga, còn những chỗ Guerra nói thì dùng tiếng Ý. Tôi ghi lại một số câu trả lời của Tarkovsky.



Khi được hỏi đối với những nhà đạo diễn lớn trên thế giới trước đây và hiện nay, có những lý do gì ông thấy cần cảm ơn họ và họ đã mang lại cho ông những cảm xúc gì, Tarkovsky trả lời: "Trước hết tôi không nhớ hết tất cả, nhưng tôi thường luôn nhớ tới thiên tài Dovzhenko, Alexander Dovzhenko, bộ phim "Trái đất" của Dovzhenko, một phim câm. Một đạo diễn gây kinh ngạc và ở vào thời kỳ của ông, điện ảnh câm, ông đã làm những thứ kỳ diệu, theo tôi. Một thứ điện ảnh thơ. Tôi chỉ trả lời ngắn ngọn câu hỏi này. Sau đó là Bresson, Robert Bresson. Bresson luôn luôn gây kinh ngạc và cuốn hút tôi bằng kiệm ước. Tôi cảm thấy ông là một nhà đạo diễn duy nhất trên thế giới đạt được sự giản đơn tuyệt đối trong điện ảnh, giống như trong âm nhạc mà Bach đạt được hay trong hội họa Leonardo hay như nhà văn Tolstoy, ví dụ như vậy, đối với tôi. Như vậy ông đối với tôi luôn là một ví dụ về sự giản đơn tài tình, một tinh thần kiệm ước. Antonioni, chân thành mà nói. Bởi vì ông luôn tạo ra ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi trong các bộ phim, và hơn tất cả trong phim hành động, mà anh [Guerra] viết kịch bản. Ở đấy tôi nhớ rằng, khi xem phim, hành động, anh hiểu không, hành động trong điện ảnh rất tùy thuộc. Thực tế là chẳng có cái gì xảy ra cả. Đấy chính là ý nghĩa hành động trong phim Antonioni. Đó là những thứ tôi thích nhất trong phim của Antonioni. Fellini tôi thích ông vì lòng nhân hậu, vì tình yêu của ông đối với con người, vì sự giản đơn và ngữ điệu thân mật. Nếu như anh muốn biết, đấy không phải là tính đại chúng, mà đấy là tính người, mà tôi đánh giá cao, vẻ Baroque, chan chứa, tuyệt đẹp. Bộ phim "Pale moon tales" rất kinh ngạc về sự giản đơn, lịch lãm và phúc hậu không ngờ trong biểu hiện và các vai diễn. Tôi chân thành nhớ tới Vigo và cảm ơn ông, nhà đạo diễn điện ảnh Pháp, mà theo tôi là cha đẻ của điện ảnh Pháp hiện nay. Bắt đầu là đợt sóng mới, và sau đó sóng ném lên bờ và những thứ còn lại sau đợt sóng. Đấy là Vigo đã tạo dựng nên điện ảnh Pháp, nhưng sau đó thật đáng tiếc chẳng ai tiếp tục được hơn ông. Sau đấy tôi luôn vui thích nhớ tới và cảm ơn những bộ phim của đạo diễn Seigey Parazhdanov, mà tôi rất thích. Khả năng của ông về tính mâu thuẫn và tính thơ, về tình yêu đối với cái đẹp, về kỹ năng tự do hoàn toàn trong sáng tạo nội tại của ông... Tôi thường nhớ tới những bài học của Bergmann, những bộ phim của ông mà tôi rất thích. Tôi thường xem lại phim của ông trước khi làm phim mới".



Trong phim khi nói về Bergmann, cảnh quay được tách ra khỏi đoạn nói về các đạo diễn trước đấy, ở nhà của Guerra, và chuyển sang cảnh ở một lâu đài cổ ở Ý, sau một cảnh chiếu một bụi cây tú cầu rất đẹp [phụ đề tiếng Anh dịch như vậy, nhưng tôi nhìn thấy giống như bụi hồng nhỏ], và Guerra hỏi: "Chúng ta đã nhìn thấy những bông tú cầu này ở đâu? Anh có nhớ không?", "Không, tôi không nhớ". "Ravello, Ravello". Và sau đấy là đoạn nói về Bergmann ở trên. Đó là cảm nhận về Bergmann được trôi theo thời gian và sau khi Guerra gợi nhớ về một cảnh đẹp [bụi tú cầu] đã từng thấy ở đâu đó, nhưng không nhớ ra.

Sunday, June 22, 2008

Slow drag blues

Tôi đọc bài thơ Slow drag blues của Kevin Young trên tạp chí The New Yorker. Bài thơ như sau:

I don’t believe in sex
after marriage.
My wife does, just
not with me.
I plead the Fifth
of whiskey. I am close
to perfecting a theory
of forgettability.
Grief a dog
that keeps dogging me—
Good Grief,
I say. It’s me
he’s teaching to beg—
my next anniversary
is newspaper, yesterday’s—
lining my cage—
Tomorrow the day
I hope to learn to stay.

Tôi nghĩ đây là một bài thơ tân hình thức. Slow drag blues là một loại nhạc blues. Tôi cố gắng tìm hiểu mối liên quan giữa bài thơ và thể loại âm nhạc slow drag nhưng vẫn không hiểu. Có thể thấy nhịp điệu và vần của bài thơ. Nhưng chúng có mối liên quan như thế nào với nhạc jazz là điều mà tôi không rõ. Một ví dụ cho thể loại âm nhạc slow drag này như sau:



Saturday, June 21, 2008

Tarkovsky: Thời gian chuyến đi

Đây là một phim tài liệu của Tarkovsky và Guerra. Tôi cảm thấy khó khăn khi dịch tên bộ phim này ra tiếng Việt. Bộ phim về thời gian hay về chuyến đi? Tiếng Nga viết là Время путешествия phù hợp với tiếng Ý, ngôn ngữ nguyên gốc của bộ phim, Tempo di Viaggio, trong khi tiếng Anh lại viết Voyage in Time, mà tôi sẽ dịch là Chuyến đi thời gian. Cách dịch từ tiếng Anh này nghe có vẻ cứng nhắc, nhưng nhất định tôi sẽ dịch như vậy. Tôi nhớ tới Goethe với Chuyến đi Ý, Italienische Reise, có thể dịch là Italian Journey hay Voyage in Italy, Time đóng vai trò như Italy. Nhưng rốt cuộc tôi sẽ phải lựa chọn cái tên nào, Thời gian chuyến đi hay Chuyến đi thời gian? Cái tiêu đề sẽ thể hiện tôi hiểu bộ phim, hiểu ý đồ thẩm mỹ của bộ phim như thế nào.

Bộ phim nói về chuyến đi của Tarkovsky tới Ý để tìm những vị trí thích hợp cho bộ phim hợp tác với nước ngoài đầu tiên của ông, bộ phim Nostalgia, Hoài hương. Nhưng bộ phim không phải chỉ nói vê chuyến đi. Trong phim Tarkovsky còn trình bày quan điểm của ông về các đạo diễn có ảnh hưởng lớn, về quan niệm nghề điện ảnh, và về một số ý tưởng của ông. Tarkovsky có quan điểm đặc biệt về điện ảnh. Ông cho rằng điện ảnh là bộ môn nghệ thuật đầu tiên khắc họa được thời gian. Thời gian khắc họa là điểm mấu chốt của điện ảnh. Không phải chuyến đi là chủ đề mà thời gian được thể hiện bằng chuyến đi là một chủ đề. Thời gian được thể hiện trên màn ảnh bằng các sự kiện, các hình ảnh biến đổi và không biến đổi. Một hình ảnh bất động, không thay đổi cũng thể hiện thời gian vì sự bất động bất biến đấy đang diễn ra khi thời gian vẫn đang trôi. Bộ phim khởi đầu bằng ống kính lướt quay một lâu đài trên một đỉnh đồi ở Roma và lùi dần xa. Kết thúc bộ phim là hình ảnh tác giả nhìn qua cửa sổ và cảnh một ngôi nhà chìm trong tuyết rất đặc trưng của Nga. Mở đầu và kết thúc đều cùng một bài thơ của Guerra, với câu thơ mở đầu "Tôi không biết nhà là gì". Ở đây "nhà" chính là quê hương. Bản dịch tiếng Anh dịch là "house", nhưng tôi nghĩ rằng đúng ra phải là "home". Nhà của tôi, đấy là đất nước của tôi, quê hương của tôi, là nguồn gốc của nỗi hoài hương khi tôi xa nó. Tôi thường nghĩ người Việt mình mới hay nặng lòng với quê hương, nhưng càng ngày tôi càng nhận ra nỗi niềm hoài hương như một tính phổ quát của con người, và như một nghịch lý, người Việt lại chưa có một tác phẩm sâu sắc nào về nỗi niềm hoài hương của con người [Thiếu quê hương của Nguyễn Tuân vẫn mang tính địa phương]. Nỗi niềm hoài hương là thời gian khắc họa, là đi tìm những gì để có thể thể hiện nỗi niềm đó qua thời gian khắc họa trên phim. Đó không phải là những phong cảnh tuyệt vời của Ý, không phải là những kiến trúc Baroque nổi tiếng, những món ăn Ý.

Tuy là một bộ phim tài liệu, nhưng cũng giống như các phim nghệ thuật của Tarkovsky, Thời gian chuyến đi có những tính thơ. Tôi luôn cảm thấy khó khăn khi giải thích thế nào thơ. Một phong cảnh thế nào đấy mà ta gọi là phong cảnh nên thơ. Phong cảnh tạo nên một bài thơ hay một câu thơ. Tôi không biết đích xác phong cảnh thế nào có thể gọi là nên thơ nhưng trước một phong cảnh tôi có thể nói nó có nên thơ hay không. Thơ như một cảm xúc nội tại, dường như ta có thể xác quyết chắc chắn, nhưng lại không thể giải thích tường minh. Tính thơ của điện ảnh lại càng mịt mù sương khói. Nét đặc trưng của phim Tarkovsky là những cảnh quay rất từ từ, những khung hình rất chậm rãi và đôi khi lặp lại. Những người ưa hành động xem phim của Tarkovsky sẽ rất chán. Nhưng đó cũng là một điều bình thường vì không phải ai cũng thích thơ.

Bèo dạt mây trôi

Đây là một bài quan họ nổi tiếng. Nhưng tôi chưa bao giờ được nghe hát bài này theo lối cổ, tức là hát không có nhạc đệm. Ca từ của bài này rất hay như mang đậm dấu ấn hàn lâm hơn là dân dã.

Đoạn băng này là giọng hát của Anh Khang và Quang Thắng. Hai giọng ca này rất đặc biệt và ấn tượng. Không phải là giọng thanh nhạc chuẩn, nhưng nghe khá hấp dẫn. Có chút nhừa nhựa, trong non. Không biết giới chuyên môn gọi là gì. Tôi nghĩ đây là giọng con trai trước khi vỡ giọng, và sẽ mất khi hai ca sĩ này lớn lên.





Tags: amnhac, quanho



Saturday June 21, 2008 - 06:06am (EDT)



Thursday, June 19, 2008

Laus Trinitati

Laus Trinitati là một bản thánh ca của Hildegard von Bingen, một phụ nữ đa tài và đặc biệt thời Trung cổ. Tình cờ tôi thấy bản nhạc này ở đây, không biết ai hát, nhưng nghe thấy rất thích thú. Tôi hình dung những bài ca như thế nên hát trần, không có nhạc đệm và trong nhà thờ, nơi có mái vòm hình trứng để cộng hưởng âm thanh. Giọng ca chính là âm nhạc, các âm ngân tạo ra các cao độ khác nhau. Nhạc phổ xem ra không phức tạp, một chuỗi các nốt đơn, được hình thành trên chuỗi Phrygian.


Photobucket

Tuesday, June 17, 2008

Trần Văn Giàu và chuyện công nhân nhà inThanh Nghị

Đọc Hồi ký Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe tôi bắt gặp một đoạn có liên quan đến Trần Văn Giàu. Nhiều khi những chi tiết nhỏ lại cho thấy những nhân cách của một số người nổi tiếng mà ta không ngờ tới. Ông Trần Văn Giàu có bịa đặt hay không thì tôi không biết, nhưng bạn đọc có thể đánh giá về nhân cách của một nhà sử học theo chủ quan của mình. Đoạn trích sau ở trang 57-58

"Nhà in Thanh Nghị có 9 người làm: 7 người thợ (2 thợ máy, 5 em xếp chữ), 1 đốc công, Nguyễn Trọng Kiên, em anh Nguyễn Trọng Phấn trong ban biên tập, 1 phó đốc công Vũ Đăng Doanh, em tôi, kiêm thư ký kế toán.

Ngẫu nhiên, một hôm đọc cuốn "Giai cấp công nhân Việt Nam" của GS Trần Văn Giàu, tôi phát hiện ra một đoạn viết:
"Phong trào đấu tranh của công nhân nội thành Hà Nội năm 1944, phát triển khá, thợ nhà in Viễn Đông tập thể đưa lên cho chủ yêu cầu tăng lương và đòi mua vải theo giá hội đồng; công nhân nhà in Xuân Thu cũng đưa yêu sách cho chủ, chủ nhượng bộ. Tháng hai năm đó, công nhân nhà máy in Lê Văn Tân yêu cầu được tăng lương, và được tăng một hạng một hào, một hạng hai hào, rồi tiếp tục đấu tranh lần sau được tăng lương gấp hai. Tại nhà in báo Tin Mới, anh em thợ xếp chữ đòi chủ tăng lương theo giá sinh hoạt, chủ nhận tăng gấp rưỡi. Từ tháng ba đến đầu tháng tư, công nhân nhà in báo Thanh Nghị cũng đấu tranh theo gương công nhân các nhà máy in kia, song ở đây có phần tử Tờ-rốt-kit phá hoại vì vậy mà cuộc đấu tranh thất bại."

Nhà in Thanh Nghị, cũng như cả tòa báo Thanh Nghị hoạt động không phải nhằm mục đích kinh doanh. Tất cả những người chỉ huy nhà in cũng như của tòa báo đều làm việc không lương, chuyện hiển nhiên ai cũng biết. Công nhân càng thấy rõ, quan hệ "chủ thợ" như trong gia đình. Trưởng kíp thợ, bác Thực là chú họ anh Đỗ Đức Dục - Thư ký tòa soạn báo Thanh Nghị; các thợ khác là con cháu bác. Bác Thực là độc giả thiết tha với báo T.N. Anh Kiên, em anh Nguyễn Trọng Phấn, là người Cộng Sản, tôi biết. Có phải là Tờ-rốt-kit không, tôi không biết. Bác Thực có phải là đảng viên Cộng Sản không, tôi không biết. Có cuộc đấu tranh đòi tăng lương trong nhà in T.N. không? Tôi cũng không biết nốt."

Monday, June 16, 2008

Nhóm Thanh nghị và Đảng Dân chủ

Vừa xem đá bóng, vừa nghe mưa rơi, vừa đọc lại Hồi ký Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe, vừa viết blog. Bốn việc một lúc, thật là tiện. Để khỏi quên mất, phải ghi lại đây để dần dần tìm hiểu.

Rất thích hai chữ "Thanh Nghị". Người ngày nay không ai có thể đặt được cái tên hay như vậy, vừa thâm trầm, vừa chân thực.

Tr. 121: đồng chí Kiến là ai?
"Nhờ những buổi gặp gỡ ấy mà chúng tôi được biết tin ông Hoàng Cường Để cử một sinh viên từ Nhật về nước cùng với thư mời Dương Đức Hiền và nhóm sinh viên yêu nước thuộc Tổng hội sinh viên Đông Dương gia nhập Đảng "Việt Nam phục quốc hội" của ông ta. Anh Hiền hẹn một thời gian suy nghĩ, nhưng sau đó đã từ chối, trong khi đó thì đồng chí Kiến, cán bộ Thành ủy Việt Minh cũng bắt liên lạc với anh Hiền và Tổng hội sinh viên.

Trong một buổi gặp riêng mấy người chủ chốt của nhóm Thanh Nghị, anh Hiền gợi ý chúng tôi xem có nên lập một đảng của trí thức để, theo anh, khi cần thiết có lợi cho mình thì đảng ấy sẽ phối hợp với Việt Minh cho đủ danh nghĩa và có trọng lượng. Chúng tôi qua buổi gặp trên tỏ ra chưa sốt sắng lắm, vì có ý chờ thêm thông tin. Trong nhóm chúng tôi, xem ra anh Dục rất chú ý lời phát biểu của anh Hiền. Dễ hiểu, anh Dục có nhiều bạn học cùng khóa với nhóm sinh viên yêu nước và thường gặp họ tâm tình".

Tr. 136: Trần Bửu Kiếm là sáng lập viên Đảng Dân chủ Việt Nam

Tr. 137:
"Anh Đỗ Đức Dục và tôi, cùng với anh Dương Đức Hiền hẹn gặp nhau tại Thái Nguyên, ấp Sơn Cẩm, họp mặt với anh Nghiêm Xuân Yêm, suốt một ngày một đêm vào đầu Mars 1944.

Chuyện ngoài, chuyện trong, nói gần, nói xa, cho đến tận 2-3 giờ đêm, mà giữa anh Hiền và ba chúng tôi chưa thuyết phục được nhau về hình thức tổ chức và phương pháp hành động... Đành chia tay nhau, bịn rịn, hẹn tiếp tục trao đổi nữa. Trở về Hà Nội, tôi bèn cùng với anh Dục tìm đến hai anh Vũ Văn Hiền và Phan Anh nói chuyện về tin quan trọng đó.

Sau đó mấy tháng, Dương Đức Hiền báo tin cho anh Dục và tôi: các anh đã thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, ngày 30-6-1944 và Đảng Dân chủ đã chính thức gia nhập Mặt trận Việt Minh. Anh Hiền nhắn thêm là anh em Dân chủ mong chờ nhóm Thanh Nghị thống nhất tổ chức và thống nhất hành động với các anh ấy: T.N. sẽ vẫn giữ thế độc lập, công khai như trước và như vậy sẽ nhân được tiềm lực chung lên gấp bội."

Tr. 201: "các cậu" là Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hòe và Nghiêm Xuân Yêm
"Tôi [DĐH], đại diện cho Tổng bộ V.M. làm lễ kết nạp các đồng chí chính thức gia nhập Đảng Dân chủ". Anh hạ giọng: "Nói chính thức vì biết các cậu trên thực tế đã là đảng viên Dân chủ rồi, đã là Việt Minh chính cống rồi mà - Đồng ý không? Đồng ý thì tuyên thệ đi cho phải phép."