Thursday, February 21, 2008

Về một thi pháp thơ chữ Hán

Nghiên cứu thi pháp thơ chữ Hán trong thi ca Việt Nam, GS Nguyễn Tài Cẩn nhận thấy các nhà thơ Việt Nam khi làm thơ chữ Hán (Đường luật) đều tuân thủ theo thi pháp thơ chữ Hán như các nhà thơ Trung Quốc, ngoại trừ một trường hợp khác biệt [*]. Cụ thể, cũng giống như các nhà thơ Trung Quốc, các nhà thơ Việt Nam coi mỗi chữ (âm tiết) là một tự, không phải là một âm. Do đó các nhà thơ có thể gieo vần trùng hoàn toàn âm, nhưng chữ là khác nhau thì không bị coi là lặp từ (ví dụ các nhà thơ có thể dùng hai từ hoa (華,花) làm hai vần trong một bài thơ mà không bị coi là mắc lỗi lặp từ tuy âm hoàn toàn giống nhau). Các nhà thơ Việt Nam cũng hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc gieo vần theo Quảng vận (ngoại trừ một trường hợp khác biệt sẽ nói ở dưới). Do đó ở một số trường hợp tuy bài thơ làm đúng vần theo Quảng vận, nhưng đọc âm Hán-Việt nghe không được êm tai. Ví dụ như bài "Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ" của Nguyễn Du:

耒陽杜少陵墓

天古文章天古師
平生佩服未常離
耒陽松柏不知處
秋浦魚龍有所思
異代相憐空灑淚
一窮至此豈工詩
棹頭舊症醫痊未
地下無令鬼輩嗤

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ

Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
Bình sinh bội phục vị thường ly
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ
Thu phố ngư long hữu sở tư
Dị đại tương liên không sái lệ,
Nhất cùng chí thử khởi công thi ?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị ?
Ðịa hạ vô linh quỉ bối xi

Dịch thơ :

Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương

Thơ thiên cổ cũng thầy thiên cổ,
Vốn một lòng ngưỡng mộ bấy nay.
Lỗi Dương tùng bách đâu đây ?
Cá rồng thu lạnh sông đầy nhớ thương,
Há văn chương lụy người đến thế ?
Chạnh nghìn xưa dòng lệ khôn ngăn,
Lắc đầu bệnh cũ còn chăng ?
Suối vàng chớ để mấy thằng quỉ trêu.

(Bản dịch của Quách Tấn)

Trong bài thơ này, các vần sư (師) thuộc vận chi (脂), vần ly (離) thuộc vận chi (支), và các vần tư (思), thi (詩), xi (嗤) đều thuộc vận chi (之). Cả ba vận chi này ( 脂,支,之) đều thuộc nhiếp chỉ (止). Như vậy các vần tư, thi, xi thuộc cùng một vận, còn các vần sư, ly thuộc bàng vận của vận chi (之). Bài thơ trên hoàn toàn phù hợp với luật thơ Đường khi các vần có thể thuộc cùng một vận (chính vận) hay thuộc các vận lân cận trong cùng một nhiếp (bàng vận) theo Quảng vận. Thế nhưng đọc bài thơ trên bằng âm Hán-Việt ta thấy các vận không hẳn đã vần êm tai: sư với vần ư không hẳn vần với vần y của từ ly, từ thi với vần i không hẳn vần với vần ư của từ tư. Những đặc điểm thi pháp này của thơ chữ Hán khác với thơ chữ Nôm và ca dao. Phần lớn thơ chữ Nôm và ca dao, các vần được gieo theo vần âm Việt (tỷ lệ vi phạm không cao), chẳng hạn rất khó tìm thấy bài thơ chữ Nôm hay bài ca dao nào có vần ư gieo vần với các từ có vần i. Như vậy nói chung thi pháp thơ chữ Hán của các nhà thơ Việt Nam không khác với thi pháp thơ chữ Hán của các nhà thơ Trung Quốc. Tuy nhiên có một trường hợp ngoại lệ: các nhà thơ Việt Nam đã phá bỏ nguyên tắc gieo vần theo Quảng vận khi các vần quá hài hoà theo cách đọc Hán-Việt. Đó là trường hợp gieo vần các vận ca (歌), qua (戈) với vận ma (麻). Theo Quảng vận các vận ca, qua thuộc nhiếp quả (果), còn vận ma lại thuộc nhiếp giả (假), có nghĩa là các vận này không thể nào là bàng vận của nhau. Ví dụ, thuộc vận ca có các từ: ca (歌), ca (哥), nga (鵝), hà (河), la (羅), đa (多), tha (他) ...., thuộc vận qua có các từ: qua (戈), khoa (科), hoà (和), ba (波), pha (坡), ma (摩), ..., thuộc vận ma có các từ: ma (麻), gia (家), gia (加), nha (牙), hà (霞), sa (紗), ba (巴), xa (車), qua (瓜), hoa (花), hoa (華) ... Các nhà thơ Trung Quốc không bao giờ gieo các vần thuộc vận ca, qua với các vần thuộc vận ma. Ở thơ chữ Hán của Việt Nam mới thấy xuất hiện cách gieo vần kiểu này vì theo cách đọc Hán-Việt các vận ca, qua, ma quá hài hoà với nhau. Ví dụ như bài thơ "Hàn Tín giảng binh xứ" của Nguyễn Du các từ thuộc các vận ca, qua đã được gieo vần với từ "gia" thuộc vận ma:

韓信講兵處

百萬旌麾渡北河
燕郊地下友沉戈
悠悠事後二千載
蕩蕩城邊一片沙
噲伍未成甘碌碌
君前猶自善多多
可憐十世山河在
厚誓徒延絳灌家

Hàn Tín giảng binh xứ

Bách vạn tinh huy bắc độ Hà

Yên giao địa hạ hữu trầm qua
Du du hậu sự nhị thiên tải
Ðãng đãng thành biên nhất phiến sa
Khoái ngũ vị thành cam lục lục
Quân tiền do tự thiện đa đa
Khả liên thập thế sơn hà tại
Hậu thệ đồ diên Giáng, Quán gia

Dịch thơ:

Chỗ Hàn Tín luyện quân

Hoàng Hà trăm vạn lá cờ bay
Gươm giáo còn chôn dưới đất này
Xa tít hai nghìn năm chuyện cũ
Mênh mông một bãi cát thành nay
Tướng thua, bậc thấp ngang Phàn Khoái
Vua hỏi, quân nhiều đánh lại hay
Nhà Hán mười đời cơ nghiệp nối
Lời thề ... Giáng, Quán số còn may !

(Bản dịch từ trang nhà Nguyễn Du của Đặng Thế Kiệt)


Từ những phát hiện này, GS Nguyễn Tài Cẩn còn đưa ra nhận định là giai thoại đối đáp thơ giữa thiền sư Pháp Thuận và Lý Giác rất có thể là sản phẩm tưởng tượng của người Việt Nam, tuy giai thoại này được chép trong chính sử. Bốn câu thơ đối đáp trong giai thoại này là:


鵝 鵝 兩 鵝

面 向 天 涯
白 毛 鋪 綠 水
紅 棹 擺 青 波

Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng nhiên nha
Bạch mao phô lục thuỷ
Hồng trạo bãi thanh ba

(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngửa mặt nhìn chân trời
Nước lục phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh bơi)

(Theo Đại Việt sử ký toàn thư)

Ở đây vần nga (鵝), thuộc vận ca (歌), vần nhai (còn đọc là nha) (涯) thuộc vận giai (佳) đồng thời cũng thuộc vận ma (麻), vần ba (波) thuộc vận qua (戈). Vần nhai thuộc vận ma có thể quan sát thấy ngay trong thơ chữ Hán của người Trung Quốc, ví dụ như bài Vô đề sau của Lý Thương Ẩn:

Văn đạo Xương môn Ngạc Lục Hoa
Tích niên tương vọng đế thiên nha
Khởi tri nhất dạ Tần lâu khách
Thâu khán Ngô vương uyển nội hoa

Dịch thơ:

Nghe nói Xương môn có Lục Hoa
Năm xưa cùng ước đến thiên hà
Há hay khách gác Tần đêm ấy
Vườn uyển cung Ngô trộm ngắm hoa
(Đông A dịch)

Các vần hoa (華,花) ở bài thơ này thuộc vận ma. Như vậy gieo vần nhai với các vần hoa, ma, gia, xa ... của vận ma không có gì vi phạm Quảng vận. Nhưng ở bốn câu thơ đối đáp trên của thiền sư Pháp Thuận và Lý Giác các vần được gieo đã vi phạm Quảng vận: vần nga của vận ca lại gieo vần với vần nhai của vận ma, vần nhai của vận ma lại được gieo vần với vần ba của vận qua. Chỉ có vận ca, vận qua là bàng vận. Vận ma thuộc nhiếp hoàn toàn khác với vận ca, qua. Do đó không thể nào một người Tống như Lý Giác lại có thể vi phạm thi pháp thơ Đường. Đó chỉ có thể là sản phẩm của người Việt Nam. Nguồn gốc của bốn câu thơ trên có lẽ có xuất xứ từ bài Vịnh nga của Lạc Tân Vương

鵝 鵝 鵝
曲 項 向 天 歌
白 毛 浮 綠 水
紅 掌 撥 清 波

Nga nga nga
Khúc hạng hướng thiên ca
Bạch mao phù lục thuỷ
Hồng chưởng bát thanh ba

Ở đây các vần được gieo hoàn toàn phù hợp với Quảng vận: nga, ca thuộc vận ca, còn ba thuộc vận qua, là bàng vận của vận ca. Đường thi không thể vi phạm nguyên tắc gieo vần theo Quảng vận.

Phát hiện thi pháp đặc biệt này của GS Nguyễn Tài Cẩn trong thơ chữ Hán Đường luật của người Việt có lẽ cũng không có vấn đề, nếu như người viết không tình cờ phát hiện hiện tượng tương tự trong thi pháp thơ chữ Hán của người Nhật và người Triều Tiên. Ở một số bài thơ chữ Hán của người Nhật và người Triều Tiên cũng có hiện tượng gieo vần hai vận bộ qua, ca với vận bộ ma. Ví dụ như bài "Bách hoa hiên" của Lý Triệu Niên (Yi Jonyeon, 李兆年, người Triều Tiên) sau

百花軒

爲報栽花更莫加
數盈於百不須過
雪梅霜菊情標外
浪紫浮紅也漫多

Bách hoa hiên

Vị báo tài hoa cánh mạc gia
Sổ doanh ư bách bất tu qua
Tuyết mai sương cúc tình tiêu ngoại
Lãng tử phù hồng dã mạn đa

Ở bài thơ này các vần gia thuộc vận ma đã gieo vần với vần qua thuộc vận qua và vần đa thuộc vận ca và như vậy là đã trái với nguyên tắc gieo vần của người Trung quốc, nhưng lại phù hợp với nguyên tắc gieo vần của người Việt. Tương tự như vậy bài thơ sau của Rai Sanyo (頼山陽, Lại San Dương) người Nhật cũng cho thấy cách gieo vần giữa hai vận bộ ca và ma

題不識庵撃機山図

鞭声粛粛夜渡河   
暁見千兵擁大牙   
遺恨十年磨一剣   
流星光底逸長蛇

Đề Bất thức am kích Ky San đồ

Tiên thanh túc túc dạ độ hà
Hiểu kiến thiên binh ủng Đại Nha
Di hận thập niên ma nhất kiếm
Lưu tinh quang để dật Trường Xà

Ở bài thơ này vần hà thuộc vận ca đã gieo với vần nha, xà thuộc vận ma.

Vậy tại sao thi pháp thơ chữ Hán này chỉ thấy xuất hiện ở các nước đồng văn với Trung Quốc, trong khi ở chính Trung Quốc lại không xuất hiện ? Ngoài ra tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Nhật thuộc các hệ ngôn ngữ khác nhau và phải chăng trong các ngôn ngữ này các vần thuộc vận ca, qua quá hài hoà với các vần thuộc vận ma nên các nhà thơ đã phá bỏ nguyên tắc Quảng vận mặc dù họ luôn tuân thủ quy tắc này một cách chặt chẽ ở các trường hợp khác ? Hay thực sự ở đó còn có nguyên nhân nào khác trong quá trình truyền bá Hán ngữ ra khỏi biên giới Trung Hoa ?

Đông A

[*] Nguyễn Tài Cẩn, Ảnh hưởng Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn (NXB Giáo dục, Hà Nội 1988) .

Phụ chú

Sau khi đăng bài trên ở một diễn đàn, một bạn trong diễn đàn cho biết người Trung Quốc cũng có những bài thơ gieo vần bộ ca, ma với nhau, ví dụ như các bài thơ sau

Bài Hiệu Đào Bành trạch của Vi Ứng Vật

效 陶 彭 澤

霜 露 悴 百 草
時 菊 獨 妍 華
物 性 有 如 此
寒 暑 其 奈 何
掇 英 泛 濁 醪
日 入 會 田 家
盡 醉 茅 檐 下
一 生 豈 在 多

Hiệu Ðào Bành Trạch

Sương lạc tụy bách thảo
Thì cúc độc nghiên hoa
Vật tính hữu như thử
Hàn thử kỳ nại hà
Xuyết anh phiếm trọc giao
Nhật nhập hội điền gia
Tận túy mao thiềm hạ
Nhất sinh khởi tại đa

Viên Tử Tài trong Tùy Viên Thi Thoại (thoại số 127) có chép lại một bài thơ của một người bạn ông (Trương Sán) mà ông lấy làm đắc ý như sau:

書 畫 琴 棋 詩 酒 花
當 年 件 件 不 离 他
而 今 七 事 都 更 變
柴 米 油 鹽 醬 醋 茶

Thư họa cầm kỳ thi tửu hoa
Ðương niên kiện kiện bất ly tha
Nhi kim thất sự đô canh biến
Sài mễ du diêm tương thố trà

Như vậy nhận xét của GS Nguyễn Tài Cẩn còn có những điểm chưa trọn vẹn. Câu chuyện về thiền sư Pháp Thuận và Lý Giác vẫn chưa có cơ sở để nghi ngờ tính chân thực của nó.

Monday, February 11, 2008

Nghị quyết 9 khóa 3

Theo một số nguồn tin không chính thức lưu hành trên mạng internet thì Nghị quyết Trung ương lần thứ 9 khóa III là đầu mối của câu chuyện xét lại, và theo những nguồn thông tin đó nghị quyết 9 chỉ phổ biến miệng. Tôi tra trên trang web của ĐCSVN và tìm thấy văn kiện của nghị quyết này. Nội dung không thấy nhắc gì tới vấn đề xét lại trên thế giới. Nhưng thông cáo về hội nghị có nhắc tới diễn biến hòa bình, chủ nghĩa xét lại. Thông cáo có đoạn viết:
"
Bản Tuyên bố Mátxcơva năm 1960 đã nêu rõ:

"Trong khi xuyên tạc và tước bỏ tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, trong lý luận cũng như trong thực tiễn, đã phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, làm tê liệt ý chí cách mạng của giai cấp công nhân, tước đoạt vũ khí và làm tan rã tinh thần của công nhân, của quần chúng lao động trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị của bọn đế quốc và bọn bóc lột, giành hoà bình, dân chủ, giải phóng dân tộc, giành thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội".

Chống chủ nghĩa xét lại hiện đại là điều kiện rất quan trọng để khôi phục và tăng cường sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế, để tập hợp mọi lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, để tăng cường sức chiến đấu của các lực lượng đó và bảo đảm giành thắng lợi vững chắc trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới.

Hội nghị nhận định rằng: Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Nghị quyết của Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng ta đã chỉ rõ: "Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hoà bình thế giới".

Lập trường của Đảng ta là lập trường của chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đảng ta có nghĩa vụ chăm lo đến lợi ích cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta, đồng thời cũng có nghĩa vụ chăm lo đến lợi ích cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, Đảng ta vận dụng một cách có sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, Đảng ta đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc cách mạng của hai bản Tuyên bố Mátxcơva năm 1957 và năm 1960, bảo vệ sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế, bảo vệ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng anh em khác. Cũng như từ trước đến nay, từ nay về sau, Đảng ta nguyện tiếp tục phấn đấu để cùng các đảng mácxít - lêninnít anh em ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế.

Đảng ta phân rõ ranh giới về chính trị giữa bè lũ xét lại, tay sai của chủ nghĩa đế quốc, với những người phạm sai lầm của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh trong phong trào cộng sản quốc tế. Thái độ của chúng ta đối với bè lũ xét lại là kiên quyết vạch mặt và phản đối, và đối với những người phạm sai lầm trong phong trào cộng sản quốc tế là vì đoàn kết mà đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết.

Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại không những là nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta, mà còn là một yêu cầu cấp bách để bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn của Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng của nhân dân cả nước. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mấy chục năm qua (thành công của Cách mạng Tháng Tám, thắng lợi của cuộc kháng chiến lâu dài chống bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn can thiệp Mỹ, những thành tích to lớn của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, những thắng lợi liên tiếp của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, v.v.) chứng minh rằng: đường lối trước đây và hiện nay của Đảng ta là đường lối mácxít - lêninnít.

Nhưng trong một số cán bộ và đảng viên đang còn có những tư tưởng hữu khuynh. Chúng ta cần khắc phục những tư tưởng hữu khuynh ấy và ngăn ngừa ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại hiện đại, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng và những Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng."

Cũng cần nhắc tới thời gian ra đời nghị quyết 9 là tháng 12 năm 1963. Krushchev bị hạ bệ vào tháng 10 năm 1964. Thời kỳ khủng khoảng Trung-Xô bắt đầu vào năm 1959, đạt đỉnh điểm vào năm 1960. Năm 1963 cách xa khoảng thời gian 1959-1960. Ông Hoàng Minh Chính bị đưa đi tập trung vào năm 1967 theo wikipedia, cũng cách xa khoảng thời gian này. Năm 1964 Viện Triết đã do ông Phạm Như Cương làm viện trưởng. Vậy trong 3 năm 1964-1967 vấn đề xét lại đã không còn là vấn đề bàn cãi nữa. Các hội nghị 10, 11, 12 đều không đề cập tới vấn đề xét lại nữa. Năm 1967 có nghị quyết 13 về vấn đề vừa đánh vừa đàm. Như vậy thật khó hình dung câu chuyện năm 1967 có liên quan trực tiếp với xét lại.

Wednesday, February 6, 2008

Thơ Hermann Hesse: Ngày đông

Photobucket
(nguồn)

Ngày đông


Ôi ánh nắng sao tuyệt vời đến thế
Ngày hôm nay trong tuyết rộ lan
Ôi chân trời ửng hồng bừng sáng
Nhưng mùa hè vẫn chưa phải hè sang

Em, từng bài hát của tôi ca bất tận
Hình ảnh hôn thê vời vợi xa xôi
Ôi tình bạn của em sáng ngời êm dịu
Nhưng tình yêu vẫn chưa phải tình yêu

Ánh trăng mãi lấp lánh soi tình bạn
Trong tuyết còn tôi dầm mãi đây
Đến lúc cả em, bầu trời, núi đồi và biển cả
Đắm trong lửa hè bừng cháy tình yêu

Hermann Hesse
(Đông A dịch)

Nguyên bản tiếng Đức

WINTERTAG

O wie schoen das Licht
Heut im Schnee verblueht,
O wie zart die rosige Ferne glueht! —
Aber Sommer, Sommer ist es nicht.

Du, zu der mein Lied allstuendlich spricht,
Ferne Brautgestalt,
O wie zart mir deine Freundschaft strahlt! —
Aber Liebe, Liebe ist es nicht.

Lang muss Mondschein der Freundschaft bluehn,
Lange muss ich stehn in Schnee,
Bis einst du und Himmel, Berg und See
Tief im Sommerbrand der Liebe gluehn.

Hermann Hesse

Tuesday, February 5, 2008

Đái Thúc Luân: Trừ dạ túc Thạch đầu dịch

除夜宿石頭驛

旅館誰相問
寒燈獨可親
一年將盡夜
萬里未歸人
寥落悲前事
支離笑此身
愁顏與衰鬢
明日又逢春
戴叔倫


Trừ dạ túc Thạch đầu dịch

Lữ quán thùy tương vấn
Hàn đăng độc khả thân
Nhất niên tương tận dạ
Vạn lý vị qui nhân
Liêu lạc bi tiền sự
Chi ly tiếu thử thân
Sầu nhan dữ suy mấn
Minh nhật hựu phùng xuân

Đái Thúc Luân

Đêm cuối năm nghỉ tại nhà trạm Thạch đầu

Quán trọ ai thăm hỏi
Bạn thân đèn lạnh thôi
Cuối năm đêm sắp hết
Ngàn dặm người chưa rời
Việc cũ buồn hiu quạnh
Thân lưu lạc ngượng cười
Mặt sầu thưa tóc cỗi
Mai lại gặp xuân rồi

(Đông A dịch)

Monday, February 4, 2008

Thơ Mandelshtam


Tôi phải làm gì với thân xác được ban?

Cái thân xác của riêng tôi và duy nhất

Sống và thở niềm hân hoan dịu mật
Phải cảm ơn ai, hãy nói cho tôi?

Tôi là người làm vườn, và tôi cũng là hoa
Trong bóng đêm thế gian tôi không đơn độc

Trên cửa kính của vĩnh hằng đã đọng
Hơi thở của tôi, hơi ấm của tôi

Khắc trên đó vân hoa cẩm tú
Không thể nhận ra vừa mới đây thôi

Hãy cứ để khoảnh khắc trôi vẩn đọng
Không xóa nhòa yêu quí vân hoa

Osip Mandelshtam

(Đông A dịch)

Nguyên bản tiếng Nga:

Дано мне тело -- что мне делать с ним,
Таким единым и таким моим?

За радость тихую дышать и жить
Кого, скажите, мне благодарить?

Я и садовник, я же и цветок,
В темнице мира я не одинок.

На стекла вечности уже легло
Мое дыхание, мое тепло.

Запечатлеется на нем узор,
Неузнаваемый с недавних пор.

Пускай мгновения стекает муть --
Узора милого не зачеркнуть.

Осип Мандельштам

Sunday, February 3, 2008

Đỗ Mục: Lữ túc

旅宿

旅館無良伴
凝情自悄然
寒燈思舊事
斷雁警愁眠
遠夢歸侵曉
家書到隔年
滄江好煙月
門繫釣魚船

杜牧

Lữ túc

Lữ quán vô lương bạn
Ngưng tình tự tiễu nhiên
Hàn đăng tư cựu sự
Đoạn nhạn cảnh sầu miên
Viễn mộng qui xâm hiểu
Gia thư đáo cách niên
Thương giang hảo yên nguyệt
Môn hệ điếu ngư thuyền

Đỗ Mục

Nghỉ đêm nơi quán trọ

Quán trọ không bầu bạn
Tình buồn tự chất sâu
Đèn tàn hoài chuyện cũ
Tiếng nhạn chen mơ sầu
Viễn mộng về vương sớm
Thư nhà nhận đã lâu
Sông xanh trăng khói tỏa
Ngoài cửa buộc thuyền câu

(Đông A dịch)