Friday, September 28, 2007

J.L. Borges: Tích xưa

Tích xưa

Jorge Luis Borges

Cain và Abel lại gặp nhau sau cái chết của Abel. Họ đi trong sa mạc, và họ trông thấy nhau từ xa, vì cả hai người đều rất cao. Hai anh em ngồi xuống đất, nhóm lửa và ăn. Họ ngồi im lặng, như những người kiệt lực làm khi trời bắt đầu chạng vạng đến lúc sẩm tối. Trên bầu trời, một vì sao lấp lánh, mặc dù nó vẫn chưa được đặt tên. Trong ánh lửa, Cain thấy trán Abel thủng vết một hòn đá, anh làm rớt miếng bánh định đưa vào miệng, và xin người em mình tha thứ.

"Là anh đã giết em hay em đã giết anh?" Abel trả lời. "Em không nhớ gì nữa; chúng ta lại cùng nhau ở đây, như là trước kia."
"Giờ anh biết là em đã tha thứ cho anh thật rồi," Cain nói, "bởi vì quên đi là tha thứ. Anh cũng sẽ cố gắng quên đi."
"Vâng", Abel trả lời chậm rãi. "Tội lỗi sẽ kéo dài mãi nếu còn ăn năn."

(Đông A dịch từ bản dịch tiếng Anh của Andrew Hurley)

Tuesday, September 25, 2007

Xưng hô

Xưng hô của người Việt Nam là một vấn đề phức tạp. Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt rất phong phú, đa sắc thái, nhưng dẫu vậy cũng có hạn chế. Khi dịch truyện ngắn Hội ẩm của Kundera tôi đã phân vân mãi khi gặp tình thế cần tìm một đại từ ngôi số hai không mang giới tính. Đó là tình huống khi một nhân vật trong truyện tưởng người đang đến là một nhân vật nữ, nhưng thật sự người đang đến lại là một nhân vật nam, và hội thoại giữa họ cho thấy đại từ nhân xưng không biểu lộ giới tính. Cuối cùng tôi đã chọn đại từ "người" ("Tôi biết là người sẽ đến"). Cách dịch này có lẽ chưa phải là cách dịch hay, nhưng thật sự tôi không còn biết làm thế nào để đạt hơn.

Có những lúc tôi có ý định thử tìm hiểu cội nguồn của xưng hô trong tiếng Việt. Do đâu mà trong tiếng Việt đại từ nhân xưng chi li thế, như tôi-ta, cô-chú, cậu-mợ, bác, ông ... Đại từ nhân xưng đã thể hiện ngôi thứ, tôn ti, trật tự không chỉ trong gia tộc mà còn ở ngoài xã hội nữa. Do chịu ảnh hưởng của Nho giáo hay do bản chất văn hóa nguyên thủy? Thật ra có thể tiến hành khảo sát nho nhỏ qua các ngôn ngữ lân cận như tiếng Mường, thứ tiếng mà tôi tin ảnh hưởng của Nho giáo còn ít hay không đáng kể. Nhưng những dự định này tôi vẫn chưa tiến hành được. Nhưng dù có nguồn gốc từ đâu, tôi luôn cho rằng hình thái biểu hiện xưng hô của người Việt là một nét văn hóa bản sắc.

Đặc điểm quan trọng của Nho giáo là chính danh. Chính danh quy định cách xưng hô chặt chẽ vì xưng hô cũng là một biểu hiện của chính danh. "Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì sự mới thành" là nguyên lý hành xử của Nho giáo. Quân, thần, phụ, tử không chỉ bao gồm các mối liên hệ nội tại, mà còn biểu hiện ra bên ngoài theo xưng hô. Cha con xưng hô với nhau không đơn giản là I - You như bạn bè hay những mối quan hệ bình thường khác như trong một số ngôn ngữ, mà phải là cách xưng hô thể hiện mối quan hệ của tam cương. Cách xưng hô của vua cũng vì vậy mà rất đặc biệt. Lúc là cô, quả thể hiện sự khiêm tốn, khi lại là trẫm, là dư thể hiện ngôi vị tôn quý. Chỉ cần xưng là "cô" là đã thể hiện vương quyền, chẳng hạn trong Hạng Vũ bản kỷ, Tư Mã Thiên viết: "
Tại sao tướng quân không đem quân quay lại liên hiệp với chư hầu, giao ước cùng nhau đánh Tần, chia đất Tần để làm vương, ngoảnh mặt về hướng nam để xưng "cô", điều đó chẳng hơn thân bị búa rìu, vợ con bị giết hay sao?" Thời nhà Trần, vua xưng là quan gia. Cách xưng hô này rất đặc biệt và được giải thích như sau: "Năm đời đế lấy thiên hạ làm của công (quan), ba đời vương lấy thiên hạ làm của nhà (gia) nên gọi là quan gia." Cách gọi này biểu hiện vua xưng danh như một quốc gia. Xưng hô của nguyên thủ quốc gia là một vấn đề quan trọng. Nó không giản lược như trong các ngôn ngữ có hệ thống các đại từ nhân xưng đơn giản. Nó phải làm sao vừa thể hiện sự tôn ti như một truyền thống văn hóa, lại vừa không tạo ra khoảng cách như một đặc điểm của thời hiện đại. Tôi là một đại từ thích hợp, nhưng chỉ thích hợp đối với quan hệ công chúng chung. Đối với mỗi đối tượng riêng biệt có thể có cách xưng hô khác thích hợp hơn. Đó là sự uyển chuyển của văn hóa và ngôn ngữ.

Sunday, September 23, 2007

Trăng trung thu

Vầng nguyệt cong cong chiếu chín châu
Ấy ai vui sướng ấy ai sầu
Bao nhà vui tiệc đoàn viên mãi
Bao kẻ phiêu linh cảnh dãi dầu

Vầng trăng ở bài thơ này không chắc là trăng trung thu, và chắc chắn không phải là trăng rằm. Nhưng mỗi độ trăng tròn, nếu nhìn thấy trăng tự nhiên tôi lại nhớ tới mấy câu thơ này. Bài thơ này đối với tôi thật kỳ lạ vì tôi thích bản dịch tiếng Việt này hơn cả bản gốc, và cũng không biết ai người đã dịch nó. Bây giờ tôi cũng không nhớ là lần đầu tiên tôi đọc nó ở đâu, và tôi cũng không biết bản gốc thực sự của bản dịch tiếng Việt. Chỉ nhớ có thế. Và thế là đủ.

Thi sĩ họ Hoàng từng hạ bút "Trăng của nhà ai, trăng một phương". Trên bước đường phiêu lạc mới thấm câu thơ này. "Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến / Hải giác thiên nhai tam thập niên". Góc biển chân trời vẫn có một vầng trăng. Cố nhân!

Ngày mai là trung thu. Trăng muời bốn bao giờ cũng đẹp hơn trăng mười lăm. Người xưa có thú vui uống rượu, ngắm trăng, ngâm thơ, thưởng hoa. Tôi không có thú vui tao nhã đó. Cũng định thử đọc một bài thơ nào đó, nhưng đã lâu rồi tôi không còn dịch được một bài thơ nào nữa. Cũng không biết tại sao. Lần giở các bản dịch cũ, tìm được bài Trung thu nguyệt của Bạch Lạc Thiên. Tôi nhớ tôi đọc bài thơ này lần đầu trong quyển thơ chữ Hán do Tản Đà dịch. Tôi không thích bản dịch của Tản Đà, và tôi đã tự dịch cho mình một bản. Tự thưởng cho mình.

Trung thu nguyệt

Vạn lý thanh quang bất khả ti (tư)
Thiêm sầu ích hận nhiễu thiên nhi (nhai)
Thùy nhân lũng ngoại cửu chinh thú
Hà xứ đình tiền tân biệt ly
Thất sủng cố cơ quy viện dạ
Một phiên lão tướng thượng lâu thì
Chiếu tha kỷ hử nhân trường đoạn
Ngọc thỏ ngân thiềm viễn bất tri
Bạch Cư Dị

Lần đầu đọc bài thơ này tôi đã không hiểu rõ tại sao tư 思 lại đọc là ti, nhai 涯 lại đọc là nhi. Lúc đó chỉ đơn giản nghĩ rằng đọc như vậy cho hợp vận. Sau tìm hiểu phiên thiết mới rõ cách đọc như vậy cũng có cơ sở. Tư có một số cách phiên thiết khác nhau. Quảng vận cho tư là tức tư thiết, có nghĩa đọc là tư. Tập vận cho tư là tân tư thiết, có nghĩa đọc là tư. Chính vận cho tư là tức di thiết, có nghĩa đọc là ti. Nhai ngoài cách đọc là nhai và nha, còn có thể đọc là nhi vì Vận hội cho rằng nhai tòng âm nghi.

Bản dịch thơ của tôi

Trăng trung thu

Muôn dặm trăng soi sáng tuyệt vời
Sầu khơi thêm hận tận chân trời
Nào ai biên ải bao năm đóng
Đâu kẻ ra đi bước mới rời
Thất sủng cung tần chong bóng lẻ
Mất thành lão tướng vịn chòi coi
Trăng soi bao cõi lòng đau đớn
Thỏ ngọc vời xa có thấu đời

và bản dịch của Tản Đà

Trăng giữa thu

Bóng đâu? Trong sáng vô ngần!
Sầu thêm, giận đắm cõi trần khắp nơi.

Đóng lâu đồn thú kia ai,
Biệt ly buổi mới đâu người trước sân?
Canh khuya, ai đó phi tần,
Vua không yêu nữa tần ngần về cung.
Biên thành thế giữ không xong,
Bạc đầu, ông tướng thong dong lên chòi.
Soi cho đứt ruột bao người,
Thiềm thừ, ngọc thỏ trên trời biết chi!


Tôi luôn không ưa lối dịch thơ như ở bài này của Tản Đà. Tôi không gọi đấy là dịch thơ, mà gọi là diễn Nôm.

Wednesday, September 5, 2007

Thiếu nữ đánh cờ vây

Tôi nhớ tại sao tôi đã mua cuốn truyện này. Có mấy cái lạ. Tên tác giả lạ. Tôi chẳng biết Sơn Táp là ai. Tên người dịch lạ. Tố Châu. Cái tên rất đẹp. Tôi rất thích chữ tố. Chữ tố cho con gái đẹp hơn chữ bạch. Đã trắng thì phải trắng nõn nà. Nhà xuất bản lạ. Nhã Nam. Nhã Nam gợi cho tôi chút tò mò. Một miền trung du rừng núi xa lạ. Khổ sách lạ. Từ bỏ truyền thống tỷ lệ vàng.

Cuốn tiểu thuyết lạ. Cấu trúc lạ. Hai nhân vật của tiểu thuyết cứ lần lượt xuất hiện. Người ta bảo là đồng hiện. Tôi không thích khái niệm này. Tôi tìm một cấu trúc thích hợp riêng tôi. Tôi tìm ra cấu trúc của một ván cờ. Không phải cờ tướng, cờ vua, mà là cờ vây. Giống như tên tiểu thuyết vậy. Tiểu thuyết là một ván cờ vây giữa hai nhân vật. Cờ tướng, cờ vua chia đôi dải sơn hà, công thành diệt tướng. Cờ vây nhẫn nại mà vi diệu. Công không phải là công, thủ không phải là thủ. Không chia hai, mà lại chia hai, mà không phải chia hai. Khai cuộc của ván cờ vây người ta án ngữ vùng đất bắt đầu bằng một hai quân cờ rồi khai triển dần ra. Tiểu thuyết cũng vậy. Bắt đầu là giới thiệu lần lượt hai nhân vật, cái lý do họ xuất hiện ở vùng đất Mãn Châu, và về sau sẽ rõ ràng hơn quảng trường Thiên Phong. Nơi người ta chơi cờ vây. Ván cờ tiểu thuyết đã bắt đầu khai triển. Mỗi nhân vật khai triển theo tuyến của mình, giống như trên bàn cờ vây, mỗi đối thủ âm thầm hoạch định vùng đất chiếm. Trung cuộc là cuộc chiến tranh chấp các vùng, hạn chế và vây bắt đối phương. Ở tiểu thuyết cũng vậy, trung cuộc bắt đầu khi hai nhân vật gặp nhau. Những mâu thuẫn, đồng cảm giằng xé trong hiện thực lạnh lùng và tàn bạo để dẫn đến tàn cuộc của ván cờ. Đồng quy tử tận. Không có kẻ thắng người thua. Chỉ có hiện thực vô cảm như nó vốn thế.

Bản dịch của cuốn tiểu thuyết hay. Dường như không cảm thấy trúc trắc văn phong khi chuyển từ một ngôn ngữ phương Tây sang tiếng Việt. Tuy vậy, bản dịch vẫn có những lỗi đáng tiếc mà không biết phải làm sao. Đó là lỗi tam sao thất bản. Tiểu thuyết của một tác giả Trung quốc viết bằng tiếng Pháp nên một số thứ vốn thuộc về Trung quốc đã được dịch sang tiếng Pháp. Đến lượt bản tiếng Việt, những thứ đó lại được dịch một lần nữa, kết quả so với nguyên thủy đã trở nên kỳ dị. Chẳng hạn đoạn này:


"Ba hỏi ý kiến tôi về các bài thơ của mình.
- Hay lắm ba ạ, nhưng con thích các vần thơ cổ của mình hơn:
Khi hoa xuân tàn
Trăng cũng tàn theo,
Bao kỷ niệm về lại trong tôi!


Hay là:
Đời ngắn bao nỗi sầu,
Mai này ta ra đi,
Tóc xõa,
Đứng trên mũi thuyền.
"

Nếu như không biết sẽ rất lầm tưởng những câu thơ trên là haiku hay tanka và biết đâu người Mãn Châu cũng làm haiku, tanka. Nhưng thực ra những câu thơ trên nguyên chữ Hán như sau:

Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu
Vãng sự tri đa thiểu

Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu
Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu

Một câu của Lý Dục, một câu của Lý Bạch. Ôi còn đâu Lý Dục với Lý Bạch nữa! Những lỗi này như những chấm tàn nhang trên một khuôn mặt yêu kiều. Đáng tiếc làm sao!

Saturday, September 1, 2007

Đảo cát trắng

Không hiểu thế nào, trong friends list của tôi có Đặng Thiều Quang. Tôi cũng chẳng biết là ai. Một bằng hữu tự viễn phương lai. Thấy báo Tuổi trẻ giới thiệu Gã lang du trên cánh đồng chữ, tôi mới nhớ là trong friends list của tôi có người này. Thế là tôi thử đọc Đảo cát trắng xem thế nào. Cuối cùng thì cũng không phải là đọc vì tôi không đọc hết. Tôi chưa xác định được thể loại tiểu thuyết này, vì tất nhiên là do chưa đọc hết. Do đó cũng khó phê bình nó. Tuy vậy, tôi thấy tiểu thuyết có cấu trúc giọng song song. Hai giọng tự sự, một tôi 5xu, một tôi Trần Tiểu Đăng và một giọng truyện của 5xu. Tôi tạm gọi là giọng, do đó chưa có định nghĩa và để cho nó có hình thức, chứ nói cả 3 giọng này là một cũng chẳng sao. Cấu trúc giọng song song có thể thấy trong tiểu thuyết Thiếu nữ đánh cờ vây của Sơn Táp. Ở đấy hai giọng lần lượt thay đổi cho nhau, giống như người ta đang chơi cờ. Tiểu thuyết có cấu trúc của một ván cờ. Tôi chưa tìm ra được cấu trúc ba giọng trong Đảo cát trắng. Có thể nó chỉ mang tính hình thức, và về bản chất thực ra chẳng có cấu trúc nào. Có nghĩa là không đáng để đọc. Tôi ưa thích các cấu trúc và đọc truyện để tìm ra cấu trúc trong đấy. Kundera nói tiểu thuyết Ignorance của ông có cấu trúc như một bản Fuga. Thế là đủ hấp dẫn để đọc. Thử hình dung một bản nhạc ba giọng, chẳng hạn một piano, một violin và một cello [một bản piano trio, ví dụ như bản của Dvorak]. Các giọng lần lượt xuất hiện, lúc độc tấu, lúc đệm cho nhau, theo một chủ đề để rồi hợp xướng theo và quyện vào nhau. Khi đọc tiểu thuyết tôi nghĩ về cấu trúc. Cấu trúc là cốt lõi của tiểu thuyết, là bản lai diện mục của tiểu thuyết. Những chi tiết thể hiện chỉ là những biến tấu trên một nền cấu trúc.