Wednesday, August 29, 2007

Chick Lit

Tôi có ý định thử suy nghĩ một cách hình thức và thuần túy về chick lit. Mục đích cuối cùng là làm thế nào để có thể xác định một tác phẩm văn học nào đó có phải thuộc dòng chick lit hay không. Điều này cũng tương tự như đối với bi kịch, hài kịch hay sử thi. Chẳng hạn đối với bi kịch, đặc điểm của nó là kết cục buồn, là chết chóc, là đảo ngược của số phận [bi kịch không nhất thiết phải chết, Oedipus không chết]. Nhưng cũng có cái chết mang tính hài [chuyện một nhà thiên văn tham dự một buổi tiệc, không dám ra ngoài đi tiểu, bị bục bàng quang chết, Kundera gọi là sự bất tử lố bịch] hay sử thi [cái chết của Hector] và cũng có cái chết chẳng mang tính gì cả, vô thưởng vô phạt. Nội dung không phải là đặc điểm để xác định thể loại. Cái chết của Nguyễn Trãi có thể dựng thành bi kịch hay sử thi, tùy theo mục đích. Cách thức đi đến cái chết của nhân vật mới quy định tính chất của cái chết, và thể loại. Tôi nghĩ đó là cấu trúc phong cách.

Chick lit có cấu trúc phong cách gì? Chick lit là thể loại văn học được viết dành cho phụ nữ trẻ, có học vấn tương đối. Ba đặc điểm chính của đối tượng độc giả: nữ, trẻ, học vấn. Đặc điểm của nữ là đa cảm, của trẻ là tình yêu, của học vấn là tri thức.Vậy một tác phẩm phải có ba đặc điểm: đa cảm, tình yêu, tri thức thì nó mới thuộc dòng chick lit. Một tình yêu tuyến tính sẽ không tạo ra đa cảm. Do đó tác phẩm chick lit phải xây dựng được tình yêu phi tuyến. Phi tuyến có thể biểu hiện thông qua các đặc điểm đa tuyến, đa đoan và phức hợp. Ví dụ như tình yêu tay ba, đơn phương, mưu mô, thủ đoạn, trắc trở trong tình yêu, hay chỉ đơn giản, trong sáng, hồn nhiên [đặc điểm này rất khó viết vì phải tạo ra một simple complexity]. Đa cảm hay bị coi là sến, do đó đôi khi chick lit bị coi là sến. Tôi nghĩ có đa cảm sến và có đa cảm không sến. Một tác phẩm chick lit hay phải là tác phẩm đa cảm không sến. Sến có thể biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cấu trúc lối mòn đến cố gắng hay ra vẻ tạo ra cái đẹp, cái đa cảm, tức là cái đèm đẹp, cái cam cảm. Ví dụ cấu trúc lối mòn có thể thấy điển hình ở các bộ phim truyền hình của Hàn Quốc với motive tình yêu tay ba, giàu-nghèo, một chút mưu mô và thủ đoạn, bệnh tật [các bộ phim khác nhau thực chất chỉ là những biến tấu khác nhau trên cùng một cấu trúc]. Những cấu trúc lối mòn khó tạo ra sự đa cảm ở độc giả vì cảm xúc của độc giả đã bị nhàm chán. Đa cảm cũng không phải là lãng mạn. Truyện ngắn của Bunin, của Paustovsky rất lãng mạn, nhưng không đa cảm. Đa cảm không sến là đa cảm xây dựng trên nền tảng lãng mạn. Tây sương ký là một ví dụ. Cuối cùng tác phẩm phải có tri thức. Đặc điểm này thoạt tiên có vẻ hơi thừa. Tác phẩm nào chẳng có tri thức. Nhưng thực ra không hẳn là vậy. Tri thức thể hiện ở chỗ tác phẩm phải tạo ra chính xác tri thức mà tác phẩm muốn thể hiện. Sự thiếu tri thức ở tri thức mà tác phẩm muốn thể hiện làm giảm giá trị của tác phẩm, thậm chí có thể dẫn đến phản cảm. Ví dụ tác phẩm muốn đề cập tới tình dục thì tri thức về tình dục phải chuẩn xác. [Ở đây nói tới sự chính xác, khác với thể hiện tri thức không qua các dạng thái khác như trào tiếu, hiện sinh, ấn tượng..., những mức độ không nhất thiết phải thể hiện trong tác phẩm chick lit, và tôi cho rằng thà viết một tác phẩm chick lit chân phương còn hơn cố tình trộn lẫn những yếu tố thể hiện phức hợp hơn trong một tác phẩm chick lit để cuối cùng thành một thứ dở ông dở thằng.] Đặc điểm tri thức cũng thể hiện ở chỗ tác phẩm đưa vào được những tri thức xã hội, văn chương, thi ca, nhạc họa ở mức độ đại chúng có học vấn.

Để minh họa tôi thử xét tiểu thuyết Trên đỉnh dốc của Lê Ngọc Mai. Tác phẩm này không đa cảm tuy có chút tình yêu trong đó, nhưng chỉ là những cấu trúc tình yêu tuyến tính [tuy có chút trắc trở nhưng chưa đủ mức để có thể tạo ra tính phi tuyến]. Nếu coi tiểu thuyết này là một tác phẩm chick lit thì hẳn đây không phải là một tác phẩm hay và tôi nghĩ rằng có ít đối tượng nữ trẻ văn phòng thích đọc nó. Tuy vậy tôi nghĩ rằng Trên đỉnh dốc không thuộc dòng chick lit. Trên đỉnh dốc là một tiểu thuyết xã hội với văn phong cổ điển pha chút châm biếm phê phán.

Tuesday, August 14, 2007

Tarkovsky: Những người ảnh hưởng

"Đã có lúc tôi có thể gọi tên những người tôi chịu ảnh hưởng, những người thầy của tôi. Nhưng bây giờ trong nhận thức của tôi chỉ lưu lại những "nhân vật", nửa thánh, nửa cuồng. Những "nhân vật" này, có thể, hơi ám ảnh, nhưng không phải bởi ma quỷ; có thể nói đó là những "thanh cuồng". Giữa những người còn sống tôi gọi tên Robert Bresson. Giữa những người đã khuất - Lev Tolstoy, Bach, Leonardo de Vinci... Cuối cùng, tất cả họ đều cuồng. Bởi vì họ tuyệt đối chẳng tìm gì cả trong đầu mình. Họ sáng tạo không phải với sự trợ giúp của trí não... Họ vừa làm tôi sợ, vừa gây cảm hứng. Hoàn toàn không thể lý giải được sự sáng tạo của họ. Cả ngàn trang giấy viết về Bach, Leonardo và Tolstoy, nhưng kết quả chẳng một ai có thể lý giải được điều gì. Chẳng một ai, may quá, có thể tìm ra, chạm được đến sự thật, đụng được đến bản chất sự sáng tạo của họ. Điều này một lần nữa chứng tỏ rằng sự phi thường không thể lý giải được... "

"Ví dụ nhà điện ảnh thực sự đối với tôi là Robert Bresson. Tôi cho rằng Nhật ký của vị linh mục làng quê là một bộ phim vĩ đại. Bresson tạo ra những cảnh khi ở nơi ông xuất hiện nhu cầu với chúng. Chủ định bắt ông phải tuân theo lương tri nghệ sĩ của ông, tư tưởng của ông. Ông sáng tạo không phải cho bản thân mình, không phải vì danh tiếng, không phải vì ca tụng. Ông chẳng bận tâm người ta có hiểu ông hay không, báo chí đánh giá ông thế nào, người ta có nên xem hay không nên xem phim của ông. Ông chỉ tuân theo những quy luật nghệ thuật khách quan và tối thượng nào đấy, ông xa lạ với tất cả những quan tâm săn sóc, cả Nhà thơ và thảo dân của Pushkin bi kịch cũng xa ông. Vì vậy, những cảnh của Bresson có được sự dung dị, thanh tao, đường hoàng đáng kinh ngạc. Bresson là người duy nhất biết chịu được những thử thách vinh quang, còn mãi là chính mình."

(Đông A dịch từ "Những bài học đạo diễn" của A. Tarkovsky, Maxcova 1993)

Monday, August 13, 2007

I. Bergman: Ảo đăng (Laterna Magica)

Ảo đăng
Ingmar Bergman
[trích dịch]

Tiết tấu những bộ phim của tôi được bắt đầu từ kịch bản, bên bàn viết, và được sinh ra trước máy quay. Tôi cảm thấy xa lạ với bất cứ hình thức ngẫu tác nào. Nếu hoàn cảnh buộc phải chấp nhận những quyết định chưa được suy nghĩ trước, tôi sau đó sẽ đờ người ra vì khiếp sợ. Đối với tôi phim là ảo giác được vạch ra đến từng chi tiết nhỏ nhất, là phản ảnh của hiện thực mà càng sống lâu trong thế giới này, tôi càng thấy nó huyền ảo.

Phim nếu không phải là tài liệu thì đó là một giấc mơ. Đấy tại sao Tarkovsky lại vĩ đại nhất giữa tất cả họ. Anh ấy hoạt động một cách tự nhiên như thế trong không gian mộng mơ. Anh ấy không diễn giải. Anh ấy phải diễn giải gì hay sao? Anh ấy là một người xem giỏi trình diễn sức tưởng tượng của mình theo cách gian khó nhất nhưng lại nhu thuận nhất của loại hình nghệ thuật. Cả cuộc đời mình tôi nện vào cánh cửa những căn phòng nơi anh ấy hoạt động quá tự nhiên. Chỉ vài lần tôi lọt được vào bên trong. Đa số những cố gắng hết sức của tôi đã kết thúc bằng thất bại đáng xấu hổ: Xà noãn, Xúc cảm, Mặt đối mặt và vân vân.

Fellini, Kurosawa và Bunuel hoạt động chung hướng với Tarkovsky. Antonioni theo hướng của mình, nhưng đã ngộp ngạt vì sự cô sầu của chính mình. Melies luôn ở đó mà chẳng cần bận tâm về nó. Ông là một nhà ảo thuật chuyên nghiệp.

Phim như là giấc mơ, phim như là âm nhạc. Không một loại hình nghệ thuật nào khác tác động trực tiếp lên cảm xúc của chúng ta tới mức độ như vậy, thấm sâu vào tận bí ẩn của tâm hồn đến thế, trượt qua những cảm xúc thường nhật như là điện ảnh. Nhược điểm tí xíu của thần kinh thị giác, hiệu ứng sốc: hai mươi bốn ành chiếu trong một giây, giữa chúng là khoảng tối, thần kinh thị giác không nhận ra chúng. Cho đến bây giờ, khi tôi xem các thước phim quay được bên bàn dựng phim, một cảm giác diệu kỳ xuất hiện xâm chiếm lấy tôi như thưở ấu thơ: trong bóng tối phòng trang phục tôi chầm chậm quay tay máy chiếu, trên tường những bức ảnh nối tiếp nhau hiện ra, tôi nhận ra những thay đổi gần như không nhận thấy, sau đó tôi bắt đầu quay nhanh hơn, và chuyển động hiện ra.

Những cái bóng nói được hay câm lặng thấm sâu trực tiếp vào những bí ẩn thầm kín của tâm hồn tôi. Mùi kim loại cháy, hình ảnh nhấp nháy hay giật cục, tiếng lanh canh của chiếc thập tự Maltese, lòng bàn tay nắm chặt tay quay.

[tr. 67,68]


(Đông A dịch từ bản dịch tiếng Nga của A.A. Afinogenova, Nhà xuất bản Văn hóa, 2002)

Sunday, August 12, 2007

Bergman và Tarkovsky

Báo Tuổi trẻ vừa có một bài viết về hai nhà điện ảnh Bergman và Antonioni. Tôi đọc được dòng chữ này ở đấy: "Ingmar Bergman có ảnh hưởng sâu sắc tới thế hệ các đạo diễn sau này như Woody Allen (người Mỹ) và Andrei Tarkovsky (người Nga)." Với Allen thế nào tôi không rõ, nhưng với Tarkovsky thì linh cảm của tôi cho thấy dòng chữ trên không đúng. Andrei Tarkovsky là đạo diễn yêu thích của tôi. Có thể nói tôi xem gần hết các bộ phim của ông, và cũng bởi vì ông dựng không nhiều phim. Với Bergman tôi mới xem có bộ phim Fanny và Alexander. Do đó tôi cảm thấy mình thật khó phán xét. Nhưng tôi thấy rằng Fanny và Alexander làm sao so sánh được với Tuổi thơ của Ivan. Nói về sự ảnh hưởng thì phải chỉ ra ảnh hưởng ở đâu, như thế nào, chứ khơi khơi như vậy thì thật buồn cười. Tôi thử tra Google thì tìm thấy ngay lập tức cảm nghĩ của Bergman về Tarkovsky như sau:

"Phát hiện ra của tôi về bộ phim đầu tiên của Tarkovsky giống như một phép màu. Bỗng nhiên, tôi thấy mình đang đứng trước cửa phòng mà chìa khóa phòng chưa bao giờ được đưa cho tôi. Đó là căn phòng tôi luôn luôn muốn vào và là nơi anh ấy hoạt động tự do và hoàn toàn thoải mái. Tôi cảm thấy phấn khởi và hào hứng: ai đấy vừa diễn tả điều tôi luôn muốn nói mà không biết phải làm thế nào. Tarkovsky đối với tôi là một nhà đạo diễn vĩ đại nhất, là người đã khám phá ra ngôn ngữ mới, chân xác với bản chất của phim, nắm bắt cuộc sống như một sự phản chiếu, cuộc đời như một giấc mơ."

"Phim nếu không phải là tài liệu thì đó là một giấc mơ. Đấy là tại sao Tarkovsky lại vĩ đại nhất giữa tất cả họ. Anh ấy hoạt động một cách tự nhiên như thế trong không gian mộng mơ. Anh ấy không diễn giải. Anh ấy phải diễn giải gì hay sao? Anh ấy là một người xem giỏi trình diễn sức tưởng tượng của mình theo cách gian khó nhất nhưng lại nhu thuận nhất của loại hình nghệ thuật. Cả cuộc đời mình tôi nện vào cánh cửa những căn phòng nơi anh ấy hoạt động quá tự nhiên. Chỉ vài lần tôi lọt được vào bên trong. Đa số những cố gắng hết sức của tôi đã kết thúc bằng thất bại đáng xấu hổ: Xà noãn, Xúc cảm, Mặt đối mặt và vân vân.

Fellini, Kurosawa và Bunuel hoạt động chung hướng với Tarkovsky. Antonioni theo hướng của mình, nhưng đã ngộp ngạt vì sự cô sầu của chính mình. Melies luôn ở đó mà chẳng cần nghĩ ngợi về nó. Ông là một nhà ảo thuật chuyên nghiệp. "

"Bỗng nhiên tôi tìm ra giải pháp: bấm máy quay truyền chạy. Bấm máy quay truyền chạy quanh các diễn viên, qua ngoại cảnh, truyền chạy. Tarkovsky luôn truyền chạy vòng quanh trong từng cảnh, ống kính bay theo mọi hướng. Tôi thực sự nghĩ đó là một kỹ thuật đáng ngờ, nhưng nó giải quyết vấn đề của tôi, thời gian trôi qua..."

Layla Alexander Garret, đạo diễn, từng làm việc cùng với Tarkovsky nói rằng: "Sau này, khi tôi làm việc ở Nhà hát Kịch Hoàng gia ở Stockholm, Bergman nói với tôi rằng mỗi lần trước khi làm phim mới, ông ấy đều xem Andrei Rublev của Tarkovsky."



Friday, August 10, 2007

Về phương pháp nghiên cứu tiểu thuyết

Bakhtin có công trình mang tên Sử thi và tiểu thuyết. Dưới cái tên này là dòng chữ Về phương pháp nghiên cứu tiểu thuyết được để trong ngoặc đơn. Tôi đang ngó nghiêng bản ebook của công trình này. [Không biết có ai đã dịch ra tiếng Việt chưa?] Bakhtin cho rằng nghiên cứu tiểu thuyết như nghiên cứu thể loại. Mở đầu ông viết: "Nghiên cứu tiểu thuyết như thể loại có đặc tính đặc biệt khó khăn. Đó là do đặc điểm của chính đối tượng: tiểu thuyết là thể loại đứng riêng và vẫn chưa hoàn thiện. Các lực lượng hình thành thể loại tác động vào mắt chúng ta: sự ra đời và hình thành thể loại tiểu thuyết được diễn ra dưới toàn bộ ánh sáng của thời kỳ lịch sử. Nòng cốt thể loại tiểu thuyết vẫn còn xa mới vững chắc, và chúng ta vẫn chưa thể tiên đoán được tất cả các khả năng tạo hình của nó." Bakhtin viết rằng: "Tôi tìm ra ba đặc điểm cơ bản, phân biệt về nguyên tắc tiểu thuyết với tất cả các thể loại còn lại: 1) tính ba chiều phong cách của tiểu thuyết, liên quan với nhận thức đa ngữ thể hiện trong nó; 2) sự thay đổi then chốt các tọa độ thời gian của mẫu văn học trong tiểu thuyết; 3) một vùng kết cấu mới của mẫu văn học trong tiểu thuyết, chính là vùng tiếp xúc cực đại với hiện tại trong sự chưa hoàn thiện của nó."

Tôi ngó nghiêng công trình này của Bakhtin vì thứ nhất nó có sẵn trên mạng, không tốn tiền mua; thứ hai tôi đang đặt ra câu hỏi làm thế nào để xác định một tiểu thuyết là dở, và tổng quát hơn, ví dụ như tại sao dòng chick lit thường bị coi là một thể loại tiểu thuyết "không cao" (tôi không biết dùng từ gì cho chính xác, nhưng "cao" ở đây không phải là đối nghịch của "hạ" như dòng khiêu dâm chẳng hạn). Cái gì đã xác định chúng như vậy? Cấu trúc phong cách của chúng như thế nào và tại sao với cấu trúc phong cách như vậy thì tiểu thuyết lại dở?

Tôi chưa đọc tác phẩm nào của dòng chick lit, nhưng đã đọc Trên đỉnh dốc của Lê Ngọc Mai [tôi không biết tiểu thuyết này có phải thuộc dòng chick lit không, nhưng tôi tin chắc rằng tác giả của nó sẽ bảo là không phải, và việc coi nó thuộc dòng chick lit có thể là đã làm thương tổn tác giả của tiểu thuyết và nằm ngoài ý muốn của tôi], và xem khối phim của Quỳnh Dao (Hoàn Châu cách cách, vẫn còn nhớ bài hát gì đó của Hương Phi). Nhưng mà nghiên cứu Trên đỉnh dốc trong ánh sáng của thể loại cũng khó. Chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Nhưng tôi cho rằng việc phân loại dòng chick lit dựa trên đặc điểm là tác phẩm viết dành riêng cho phụ nữ ở một lứa tuổi nào đó là không được và không mang tính học thuật. Và ngay cả ở đặc điểm này cũng không rõ ràng. Ai hay cái gì sẽ quy định đặc điểm này? Tất nhiên không phải là tác giả, nhà xuất bản hay độc giả. Cái có thể chỉ có thể là cấu trúc phong cách của tác phẩm. Vậy những đặc điểm nào của cấu trúc phong cách sẽ quy tác phẩm vào dòng chick lit? Tôi nghĩ rằng có lẽ phải biết tâm sinh lý của phụ nữ ở lứa tuổi đó mới xác định được đặc điểm của cấu trúc phong cách tác phẩm.

Friday, August 3, 2007

Schubert: Dạ khúc








Comments

(5 total)








Cám ơn anh với "Dạ khúc" tuyệt vời này.


Sunday August 5, 2007 - 10:16pm (ICT)










đến nỗi nổi da gà luôn


Tuesday August 7, 2007 - 11:30am (MDT)

















Chắc là tại bản tiếng Trung. Tôi cũng không biết tại sao như thế nữa. Nhưng vào thẳng Esnips nghe thì không bị sao.


Wednesday August 8, 2007 - 12:07am (EDT)










Tuyệt, tuyệt, tuyệt!

Rất ngưỡng mộ anh Dong A.


Thursday August 9, 2007 - 05:57am (ICT)

















Serenade có thể dịch là Khúc nhạc chiều.


Saturday October 27, 2007 - 06:31pm (SGT)



















You must be a member of Yahoo! 360° to comment on this blog entry.










HIGHLIGHTED POSTS














Tags: amnhac



Saturday August 4, 2007 - 04:38am (EDT)