Friday, February 27, 2009

Lại bãi Tục Lãm

Tôi tiến hành chồng 2 bản đồ quanh khu vực bãi Tục Lãm để xem các bãi đất biến thiên ra sao. Bản đồ thứ nhất là bản đồ thời Pháp.

Photobucket

Ở bản đồ nàytôi đánh dấu một bãi đất hình tam giác bằng chữ A với 3 đỉnh là 3 chấm tròn đỏ. Tôi đánh dấu chữ C với chấm vuông chỉ một mũi cực của bãi Lục Lâm (chú ý không phải là bãi Tục Lãm). Tôi đánh dấu 4 chấm vuông dọc theo sông: chấm vuông số 1, số 2, số 3 là những điểm ngã 3 sông, chấm vuông số 4 là điểm dòng sông có khúc ngoặt.


Photobucket


Ở bản đồ vệ tinh này tôi cũng đánh dấu những điểm tương ứng như ở bản đồ 1.
Ngoài ra tôi đánh dấu bãi Tục Lãm bằng chữ B với 2 điểm đầu cuối. Tôi đánh dấu chữ T với những chấm tròn là phần đất bên Trung Quốc và chữ W phần mũi đất bên Việt Nam.

Bây giờ tôi thử chồng hai bản đồ lên nhau. Tôi nhận thấy không thể nào chồng khít chúng với nhau được. Đây là một cách chồng:

Photobucket


Cách chồng này các điểm 1,2,4 ở bản đồ số 1 trùng với các điểm X,Y,V ở bản đồ số 2. Cách chồng này gần giống với cách mà Minh Biện làm. Các chấm đỏ là ở bản đồ về tinh số 2, các chấm trắng là ở bản đồ Pháp số 1. Cách chồng này điểm số 3 ở bản đồ số 1 không thể nào chồng khít với điểm Z ở bản đồ số 2. Với cách chồng thế này có thể thấy bãi Tục Lãm nằm trong đất Lục Lâm. Ngoài ra dòng sông trước đây (đường chấm đen) đã bị dịch chuyển về phía Việt Nam rất nhiều (đường hẹp màu xanh). Bãi đất chữ A nằm ở ngoài biển, ngay sát rìa đất chữ T của Trung Quốc. Cách chồng này có mấy nhược điểm sau:
- điểm 3 ở bản đồ số 1 không khít với điểm Z ở bản đồ số 2
- phần mũi đất phía Việt Nam (chữ V ở bản đồ số 1) lại lấn ra biển quá xa so với phần chữ W ở bản đồ số 2.
- dòng sông ở biên giới ở bản đồ 1 và 2 không khớp với nhau
- không giải thích được sự hình thành nhánh sông phía nam bãi Tục Lãm
Với cách chồng này bãi đất A trước đây (bản đồ 1) bị chìm xuống biển và điểm này không thể hiện trên bản đồ vệ tinh.

Tôi thử chồng bản đồ theo cách khác.

Photobucket


Với cách này các điểm 1,2,3,4 ở bản đồ số 1 không hoàn toàn trùng khít với các điểm X,Y,Z,V ở bản đồ số 2, nhưng chúng ở trong lân cận gần tương đối, có nghĩa là chúng được khớp tương đối với sai số nhất định. Ở cách khớp này dòng sông biên giới trùng với nhau. Điểm cực mũi đất (chữ W ở bản đồ số 1) cũng khá khớp với bản đồ vệ tinh. Cách khớp này còn cho thấy tại sao cửa sông hiện nay rộng hơn trước đây rất nhiều. Ở cách chồng hình này bãi đất chữ A ở bản đồ số 1 trùng một phần với bãi Tục Lãm (chữ B ở bản đồ số 2). Nếu như bãi đất A dịch chuyển một chút về phía bắc thì nó sẽ khớp với bãi Tục Lãm và đồng thời cũng giải thích được sự hình thành nhánh sông phía nam bãi Tục Lãm. Nhánh sông phía Nam bãi Tục Lãm chính là nhánh sông chính trước đây. Tuy nhiên ở đây có điểm tôi không hiểu rõ là làm sao bãi đất di chuyển ngược dòng được? Nếu di chuyển ngược như vậy thì chứng tỏ sự tác động của biển lớn hơn rất nhiều so với sông. Ngoài ra có một phần đất ở bên Trung Quốc bị mất. Song những điểm này có thể lý giải rất dễ dàng nếu chấp nhận bản đồ Pháp vẽ không được chính xác. Điều này có lẽ phải chấp nhận vì không thể nào khớp các mũi đất ở bản đồ Pháp với bản đồ vệ tinh. Như vậy bãi Tục Lãm chính là bãi đất chữ A. Với nghiên cứu thuần túy trên bản đồ chỉ có thể so sánh được như vậy.

Update:

Bây giờ tôi hiểu vấn đề rồi: không phải bãi đất chữ A trôi lên phía thượng nguồn mà là bãi đất chữ A được bồi đắp về phía thượng nguồn tạo thành bãi Tục Lãm.


Monday, February 9, 2009

Thị xã trong tầm tay

Tôi xem lại bộ phim này của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Hai nhăm năm xem lại một bộ phim. Có lẽ đây là bộ phim điện ảnh đầu tiên của Việt Nam dàn dựng với thủ pháp đan xen thời gian, quá khứ, hiện tại trộn lẫn với nhau. Bộ phim lấy bối cảnh thị xã Lạng Sơn vừa ngay sau chiến tranh biên giới Việt-Trung. Vũ, một nhà báo, lên Lạng Sơn làm phóng sự về tình hình Lạng Sơn sau khi quân Trung Quốc tàn phá và rút về bên kia biên giới. Những ký ức của anh về Lạng Sơn, về mối tình đã xa của anh với Thanh, cô bạn gái từ thưở sinh viên, về thân phận con người trong xã hội Việt Nam lần lượt hiện về giữa một Lạng Sơn đổ nát, giữa sự hoang tàn mà chiến tranh để lại song hành cùng với sự tàn khốc và vô nghĩa của một cuộc chiến. Tuy đôi chỗ có chút khiêng cưỡng và lên gân, bộ phim có chiều sâu về tư tưởng và nghệ thuật. Điện ảnh Việt Nam, như một nghịch lý, những bộ phim ngày xưa lại được dàn dựng có tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật hơn những bộ phim hôm nay.

Thanh, nữ nhân vật trong phim, từng hỏi: "Trách nhiệm gì cơ?" Giọng nói của nhân vật rất trong trắng và thơ ngây. Phải, trách nhiệm gì cơ? Một Việt Nam vừa mới hôm qua, nhưng không phải đã là dĩ vãng. Xã hội đã tha hóa con người, khiến con người trở nên hèn nhát hơn, đánh mất những hạnh phúc đích thực của mình như nhà báo Vũ. Sự tha hóa đó dường như là một lẽ rất tự nhiên và không ai, lúc đấy, đặt câu hỏi tại sao phải chịu trách nhiệm. "Trách nhiệm gì cơ?", câu hỏi của cô gái ngày hôm qua vẫn nhức nhối người xem hôm nay. "Chuyện nàng Tô Thị thì ra là có thật, chỉ có không hóa đá mà thôi", đấy là lời tái bút của Thanh trong bức thư gửi cho Vũ.

Phim có một chi tiết thật. Đó là sự hy sinh của một nhà báo Nhật ở Lạng Sơn. Ba mươi năm trôi qua, không biết gia đình và đồng nghiệp của nhà báo Nhật còn nhớ tới ông không. Tất nhiên câu nói của nhà báo trước khi chết, câu nói của Phu-xích, là một dàn dựng nghệ thuật. Trong phim có một ca khúc của Trịnh Công Sơn phổ lời thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà sau này tôi chẳng bao giờ được nghe ai hát. Mãi còn nơi biên giới, mây trời và ải xưa, một miền đất nắng mưa, suốt đời tôi mang nặng ...

Saturday, February 7, 2009

Một số âm Việt trong Trần Cương Trung thi tập

Photobucket


An Nam tức sự
của Trần Phù được chép trong Trần Cương Trung thi tập. Đây là tập ký sự ghi chép của Trần Phù khi sang sứ Việt Nam vào thời nhà Trần. Trần Phù có ghi lại một số âm tiếng Việt bằng chữ Hán để làm ví dụ miêu tả âm tiếng Việt. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn có chép lại những ghi chép này của Trần Phù. Đối chiếu bản Trần Cương Trung thi tập được chép trong Tứ khố toàn thư thì bản Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn lại chép chính xác hơn. Không biết Lê Quý Đôn có hiệu đính lại khi chép hay bản Giao châu thi tập của Trần Phù mà Lê Quý Đôn chép chính xác hơn bản trong Tứ khố toàn thư. Điều này cũng dễ hiểu vì những người biên soạn Tứ khố toàn thư có thể không biết tiếng Việt nên có thể đã chép không đúng và không biết để hiệu đính lại. Ví dụ, bản Tứ khố toàn thư chép "trời" được nói là "bột vị", trong khi Kiến văn tiểu lục chép là "bột mạt". Chữ "vị" (未) và chữ "mạt" (末) khá giống nhau nên có thể chép nhầm. Bản Tứ khố toàn thư chép "đất" được nói là "yên" (烟), trong khi bản Kiến văn tiểu lục chép là "đát"(怛). Rõ ràng âm "đát" chính xác hơn âm "yên". Hai chữ này viết rất khác nhau và không rõ tại sao lại nhầm lẫn đến vậy. Nhưng cũng có thể nhận thấy Tứ khố toàn thư đã chép từ bản không được tốt vì đã để khuyết cách nói chữ "mây". Ngoài ra cũng phải nói rằng những ghi chép về ngữ âm của Trần Phù cũng chỉ tương đối vì đây không phải là ghi chép chính âm hay thiết âm. Khó có thể lấy những ghi chép này của Trần Phù để phục hồi lại cách phát âm của người Việt thời Trần.

Friday, February 6, 2009

Ghi chép về chữ mạt

Photobucket


1. Cổ Tráng tự tự điển và Thuyết văn cùng cho nghĩa như nhau.
2. Phát âm theo tiếng Choang là: bo:t
3. Phát âm Hán cổ điển không thay đổi: mạt

Cổ Tráng tự là một dạng chữ như chữ Nôm, dựa trên Hán tự để biểu âm và biểu ý cho tiếng Choang, ngôn ngữ phổ biến ở vùng Quảng Tây.


Sunday, February 1, 2009

Ải Nam quan có thuộc Việt Nam?

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng nói: "Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay còn gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc". Bloger Ginola cho rằng không có tài liệu nào của Việt Nam nói rằng Ải Nam quan thuộc về Trung Quốc. Tôi dẫn Đại Nam nhất thống chí như chép ở dưới đây.

Đại Nam nhất thống chí chép: "Cửa [Nam Giao] này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại; có tên nữa là "Đại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở giữa, có biển đề ba chữ "Trấn Nam quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có Chiêu Đức đài, đằng sau đài có Đình tham đường (nhà dừng ngựa), của nước Thanh; phía nam có Ngưỡng Đức đài, của nước ta, bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan, thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ" [tập 4, trang 385, NXB Thuận Hóa năm 1997].

Như vậy Đại Nam nhất thống chí chép rất rõ Trấn Nam quan thuộc về Trung Quốc và do người Trung Quốc xây và tu bổ. Phía nam Trấn Nam quan có Ngưỡng Đức đài mới thuộc về Việt Nam.

Sau đấy Ginola dẫn Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn: "
Phía bắc nước ta giáp với TQ có 3 cửa ải : Mạn trên có Thủy khẩu quan thuộc tỉnh Cao Bằng
Mạn giữa có Bình nhi quan thuộc huyện Thất Khê
Mạn dưới có Trấn Nam quan (có lúc gọi là ải Pha Lũy, Trấn Nam Giao, Mục Môn Quan, Ải Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan) thuộc tỉnh Lạng Sơn
3 cửa ải ấy là nơi quan hệ trọng yếu để ngăn ngừa quân địch".

Lê Quý Đôn chỉ nói rằng phía bắc nước ta giáp với cửa ải Trấn Nam quan. Ông không hề nói Trấn Nam quan thuộc về Việt Nam.

Tiếp theo Ginola nói tiếp: "
Cũng trong Đại Nam Nhất Thống Chí, sau khi mô tả ải Nam Quan, các sử quan nhà Nguyễn đã đưa ra nhận xét như sau: "Trấn Nam Quan không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử cũng như Bắc sử đều không có minh văn". Vậy làm sao anh có thể căn cứ vào tài liệu này (Đại Nam Nhất thống chí) để khẳng định Ải Nam Quan thuộc về Trung Quốc?
Từ nhỏ chúng tôi đã được học "Nước Việt Nam bắt đầu từ Ải Nam Quan...", nếu anh không học như vậy thì tôi biết phải chứng minh từ đâu cho anh rõ!"

Ở đây Đại Nam nhất thống chí chỉ nói rằng Trấn Nam quan không rõ bắt đầu từ triều đại nào, chứ không nói Trấn Nam quan là của Việt Nam vì ở trên đã viết rất rõ Trấn Nam quan do người Trung Quốc xây và tu bổ. Câu nói "Nước Việt Nam bắt đầu từ Ải Nam quan" cũng không khẳng định Ải Nam quan thuộc về Việt Nam. Câu nói này chỉ nói đến một cái mốc, từ phía nam Ải Nam quan là đất Việt Nam, còn cái ải có thuộc Việt Nam hay không thì câu nói đấy không đề cập tới.

Tôi ghi lại đây để làm tư liệu. Sự thật phải dựa trên những tư liệu lịch sử chứ không phải dựa trên cảm tính.