Friday, July 25, 2008

Brodsky: Những con cá mùa đông

Những con cá mùa đông vẫn sống.
Những con cá hớp hớp ô xy.
Những con cá mùa đông bơi lội.
Vướng mắt vào
lớp băng.
Tới đó.
Nơi sâu hơn.
Nơi biển cả.
Những con cá.
Những con cá.
Những con cá.
Những con cá bơi lội mùa đông
Những con cá muốn nổi lên
Những con cá bơi trong tăm tối
Dưới mặt trời
mùa đông lăn tăn.
Những con cá bơi chối chết
Cách vĩnh cửu của cá.
Những con cá không rỏ lệ:
Tỳ đầu vào tảng đá
Trong nước buốt
Lạnh cóng
Đôi mắt buốt
Những con cá.
Những con cá
Luôn luôn im lặng
Bởi vì chúng không nói không rằng.
Những vần thơ về những con cá,
Giống như những con cá,
Trào lên ngang họng.

(Đông A dịch)


Tôi đọc bài thơ này của Brodsky với cảm giác kỳ lạ. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới những con cá trong mùa đông băng tuyết. Những con cá vẫn sống dưới lớp băng, vẫn bơi lội, nhưng chúng bơi trong tăm tối, không ánh sáng mặt trời, mặc dù mặt trời mùa đông vẫn chói lọi trên cao. Chúng không thể bơi lên mặt nước hớp không khí vì lớp băng ở trên. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy những đôi mắt cá dưới lớp băng đấy. Chúng có lạnh lẽo, buốt giá? Những đôi mắt câm lặng dưới lớp băng. Những con cá không thể nào nói được. Dù sao mùa đông cũng chỉ có ba tháng. Tôi nghĩ về những con người. Một đời người. Có những bài thơ đọc lên thấy sợ. Tôi không biết tôi có hối tiếc đã đọc bài thơ này và đã dịch nó không?


Nguyên văn tiếng Nga:

Рыбы зимой

Рыбы зимой живут.
Рыбы жуют кислород.
Рыбы зимой плывут,
задевая глазами
лед.
Туда.
Где глубже.
Где море.
Рыбы.
Рыбы.
Рыбы.
Рыбы плывут зимой.
Рыбы хотят выплыть.
Рыбы плывут без света.
Под солнцем
зимним и зыбким.
Рыбы плывут от смерти
вечным путем
рыбьим.
Рыбы не льют слезы:
упираясь головой
в глыбы,
в холодной воде
мерзнут
холодные глаза
рыбы.
Рыбы
всегда молчаливы,
ибо они --
безмолвны.
Стихи о рыбах,
как рыбы,
встают поперек
горла.

Иосиф Бродский

Sunday, July 20, 2008

Bài thơ cảm tác đi sứ về của Trần Phù

Tôi đọc thấy ở nhiều nơi viết rất tự hào khi sứ nhà Nguyên là Trần Phù có viết câu thơ "Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh" (giữa tiếng trống đồng tóc bạc sinh) trong chuyến đi sứ Việt Nam. Những chỗ đó viết rằng sứ nhà Nguyên đã run sợ trước tinh thần Đại Việt. Tôi cảm thấy có điều gì đó không ổn. Tiện thể thư viện CADAL có cung cấp tập thơ Trần Cương Trung thi tập của Trần Phù nên tôi tìm đọc bài thơ này. Bản Trần Cương Trung thi tập trong thư viện CADAL là bản chụp của Tứ khố toàn thư, phần Tử tập. Nguyên bài thơ của Trần Phù có tên là Giao Châu sứ hoàn cảm sự (Đi sứ Giao Châu trở về cảm tác về sự việc). Bài thơ có hai thủ:

Thiếu niên ngẫu thử thỉnh trường anh
Mệnh lạc Nam Châu nhất vũ khinh
Vạn lý Thượng Lâm vô nhạn đáo
Tam canh Hàm Cốc hữu kê minh
Kim qua ảnh lý đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh
Dĩ hạnh quy lai thân phúc tại
Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.

Bảo kiếm kim phù tiếu thử thân
Bá Lăng kim thị cựu tương quân
Tháp tiền vị thượng chinh biên sớ
Nang để không lưu dụ Thục văn
Thất thập thân vi song mấn tuyết
Bát thiên khách lộ nhất tiên vân
Hà thì quy trạo yên giang thượng
Nhàn đối sa âu tẩy chướng phân

Câu thơ quen thuộc "Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh" nằm ở bài thứ nhất. Bài thứ nhất có nghĩa:
1. Tuổi trẻ chợt xin được giải mũ dài, có nghĩa là thiếu niên đã được ra làm quan.
2. Mệnh lạc đến phương Nam như một chiếc lông nhẹ. Lông nhẹ hàm ý không tự chủ được mình, bị gió thổi bay tới cả những nơi mà mình không muốn.
3. Muôn dặm ở vườn Thượng Lâm không có chim nhạn bay đến. Đây là điển tích về Tô Vũ. Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị giữ lại. Ông viết lá thư buộc vào chân chim nhạn. Mùa đông chim nhạn bay về phương nam tránh rét, bay tới vườn Thượng Lâm trong cung nhà Hán. Vua Hán đọc được thư mới biết Tô Vũ hãy còn sống ở đất Hung Nô. Trần Phù viết câu thơ này cho thấy ông cảm thấy chuyến đi sứ của mình gian khó còn hơn cả trường hợp của Tô Vũ, lấy đâu chim nhạn bay đến vườn Thượng Lâm.
4. Canh ba ở ải Hàm Cốc có tiếng gà gáy. Đây là điển tích về Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân đi sứ sang Tần, đang đêm chạy về Tề, tới ải Hàm Cốc cửa đóng không ra được. Đúng lúc đấy có tiếng gà gáy và quan coi ải mở của, Mạnh Thường Quân thoát ra khỏi Tần. Tiếng gà gáy là do một người trong đoàn của Mạnh Thường Quân giả làm. Trần Phù viết câu thơ này cho thấy ông cảm thấy hoàn cảnh chuyến đi sứ của ông gian nan, vất vả, nguy hiểm như chuyến đi sang Tần của Mạnh Thường Quân.
5. Trong bóng hình mác sắt tấm lòng son cay đắng. Mác sắt là hình tượng của chiến tranh. Trần Phù viết câu thơ này cho thấy tấm lòng trung chinh của ông rất cay đắng trong cảnh hai nước có chiến tranh. Đó là vị thế không biết phải làm sao, chỉ có tầm lòng son mà thôi.
6. Giữa tiếng trống đồng tóc bạc sinh. Ở câu thơ này Trần Phù có cước chú rằng ông mới có 35 tuổi mà chuyến đi sứ này trở về đã thấy có 2 sợi tóc bạc. Câu thơ này cho thấy chuyến đi sứ rất hung hiểm, đầy bất trắc và lo âu.
7. May mắn được quay về, thân như được sinh ra lần thứ hai.
8. Trong giấc mơ còn có cảm giác kinh sợ về chướng khí.
Hai câu thơ cuối cho thấy Trần Phù cảm thấy ông còn được may mắn trở về quê hương, đến nỗi trong mơ còn sợ tấm thân bỏ lại ở đất Việt.

Đọc bài thơ trên của Trần Phù chỉ thấy nỗi lo sợ về chuyến đi sứ của ông. Nỗi lo không có ngày tấm thân được an toàn trở về quê hương bản quán. Đấy là một nỗi lo hiện sinh. Đi sứ là một quan hệ ngoại giao, và đáng lẽ ra nước chủ nhà phải hiếu khách đảm bảo để sứ giả cảm thấy an toàn, cảm thấy như đang ở nước mình. Đằng này, chiến tranh đã lùi xa, nhưng nhà Trần đã không làm được gì để sứ giả yên tâm. Đó là nhược điểm của nhà Trần. Hậu thế không hiểu tại sao toàn tán dương bài thơ này, cho rằng sứ nhà Nguyên đã khiếp sợ trước tinh thần Đại Việt. Tôi cho rằng những việc tán dương như thế là biểu hiện rất rõ của tinh thần nhược tiểu, một hả hê của nước bé trước những vụn vặt, nhỏ nhoi không đáng quan tâm. [Buồn cười nhất là ông Xuân Ba viết trên báo Tiền Phong rằng bài thơ này được ứng tác ở chính đất Thăng Long khi sứ giả được vua Trần tiếp. Không hiểu ông này hiểu câu "Dĩ hạnh quy lai thân phúc tại" như thế nào. Thế mà thấy người ta viết rằng nhà ông này có đủ "văn phòng tứ bảo".]

Bài thơ thứ hai có nội dung:
1. Kiếm báu phù vàng cười cho tấm thân này
2. Bá Lăng ngày nay là nơi cai quản quân ngày xưa
3. Trước giường chưa dâng sớ đi sứ
4. Đáy túi còn lưu dụ Thục văn. Dụ Thục văn là dụ chỉ an dân. Thời Hán, Đường Mông được sai đi đánh Dạ Lang. Trên đường khởi quân áp chế dân chúng, cướp bóc thóc gạo. Hán Vũ Đế sai Tư Mã Tương Như thảo hịch "Dụ cáo Ba Thục dân dĩ phi thượng ý" (Dụ thông báo cho dân Ba Thục biết những việc làm không phải là ý của vua) trách mắng Đường Mông. Từ đấy gọi là "dụ Thục văn".
5. Cha mẹ bảy mươi hai mái tóc bạc
6. Đường trần tám nghìn một dải mây
7. Bao giờ được chèo thuyền trở về trên sông khói
8. Nhàn nhã ngắm đám chim âu tẩy sạch mùi chướng khí

Saturday, July 12, 2008

Nam ông mộng lục

Nam ông mộng lục là tập ký của Hồ Nguyên Trừng viết về các nhân vật Việt Nam khi ông đang ở Trung Quốc. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam tập sách này nguyên có 31 thiên, nhưng hiện chỉ còn 28 thiên như ở Tuyển tập thơ văn Lý Trần. Thư viện CADAL có một bản Nam ông mộng lục in trong Tùng thư tập thành sơ biên do Thương vụ ấn thư quán phát hành, có đầy đủ cả 31 thiên. Ba thiên không có trong Tuyển tập thơ văn Lý Trần là: Mệnh thông thi triệu, Thi chí công danh, Tiểu thi lệ cú. Không rõ có ai nghiên cứu xem ba thiên này là ba thiên do Tùng thư tập thành sơ biên ngụy tạo hay đích thực đúng là của Hồ Nguyên Trừng viết mà sách vở của Việt Nam chưa biết.

Hồ Nguyên Trừng viết lời tựa cho Nam ông mộng lục đúng vào ngày Trùng cửu. Ngày Trùng cửu là ngày sum họp gia đình theo phong tục Trung Quốc. Chắc hẳn ngày hôm đó ông đang nhớ về mảnh đất Việt Nam. Độc tại dị hương vi dị khách / Mỗi phùng giai tiết bội tư thân / Dao tri huynh đệ đăng cao xứ / Biến sáp thù du thiểu nhất nhân. Tôi chợt nhớ tới mấy câu thơ này của Vương Duy khi nghĩ lúc Hồ Nguyên Trừng hạ bút viết lời tựa. Hồ Nguyên Trừng còn không được như Vương Duy. Ông không có chắc những người thân của ông có còn không, có còn có thể bẻ cành thù du để nguôi nỗi nhớ không. Viết vào ngày Trùng cửu Hồ Nguyên Trừng như có ý nhắn gửi rằng tập sách này là một sự sum họp của ông với mảnh đất phương Nam, quê hương của ông, giờ chỉ còn như trong một giấc mộng.

Mấy câu thơ trên của Vương Duy cũng có lần tôi đã tập dịch: Đất lạ đơn côi làm khách lạ / Mỗi lần lễ tết nhớ nhà hoài / Vẫn hay huynh đệ lên non đấy / Đều ngắt thù du thiếu một người. Khi dịch mấy câu thơ này tôi đã không biết cành thù du như thế nào. Đến khi xem phim Hoàng kim giáp mới đoán cành thù du trong phim. Trương Nghệ Mưu đã thay đổi chút phong tục của Trung Quốc. Thay vì bẻ cành thù du cắm vào một chỗ, ông đã cho các nhân vật trong phim cài cành thù du lên mái tóc. Một biểu tượng cho gia đình, cho sum họp. Nhưng có lẽ ít người để ý và biết đến ý nghĩa của chi tiết này.

Cập nhật trong ngày:


Trong ba thiên bị thất lạc không có trong Tuyển tập thơ văn Lý Trần, thì thiên Tiểu thi lệ cú của Nam ông mộng lục trong Tùng thư tập thành sơ biên chính là phần cuối trong thiên Thi ngôn tự phụ của bản Tuyển tập thơ văn Lý Trần. Thiên Thi ngôn tự phụ trong
Tùng thư tập thành sơ biên phần về Nguyễn Trung Ngạn dài hơn so với bản trong Tuyển tập thơ văn Lý Trần. Thiên Mệnh thông thi triệu là thiên viết về Lê Quát, giống y trang như phần viết về Lê Quát trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thiên Thi chí công danh là thiên viết về Phạm Ngũ Lão và bài thơ của ông, cũng khá giống như trong Đại Việt sử ký toàn thư phần viết về Phạm Ngũ Lão. Không biết hai thiên này trong Tùng thư tập thành sơ biên chép từ Đại Việt sử ký toàn thư hay Đại Việt sử ký toàn thư lấy từ Nam ông mộng lục. Bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng Nam ông mộng lục bị mất ba thiên là không có cơ sở. Không rõ ai là tác giả mục viết về Nam ông mộng lục trong Bách khoa toàn thư Việt Nam mà nghiên cứu thiếu kỹ lưỡng đến như vậy.

Bản Nam ông mộng lục trong Tùng thư tập thành sơ biên là bản lấy từ Kỷ lục vựng biên, quyển 50, của Trầm Tiết Phủ (1533-1601) đời nhà Minh. Bộ Kỷ lục vựng biên có tổng cộng 216 quyển. Thư viện CADAL cũng cung cấp toàn bộ bộ Kỷ lục vựng biên, trong đó có tập Nam ông mộng lục, do Trường sa thương vụ ấn thư quán chụp lại từ bản Vạn lịch đời nhà Minh. Mặt khác Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký sau thời gian Hồ Nguyên Trừng viết Nam ông mộng lục, nhưng lại trước thời gian Trầm Tiết Phủ soạn Kỷ lục vựng biên. Không có lý do gì mà Trầm Tiết Phủ lại phải giả tạo ba thiên cho Nam ông mộng lục mà trong đó hai thiên chép lại từ Đại Việt sử ký. Như vậy có thể thấy Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký đã tham khảo và chép lại từ Nam ông mộng lục. Cũng có thể cả Ngô Sĩ Liên lẫn Hồ Nguyên Trừng đều chép từ một nguồn khác, nhưng khi nguồn này chưa tìm ra được thì không thể khẳng định điều này.

Có thể thấy bản Nam ông mộng lục của Tuyển tập thơ văn Lý Trần đã bị mất một số trang từ trang cuối của thiên Thi ngôn tự phụ cho đến trang có Thi tửu kinh nhân. Do đó bản này đã chép luôn thiên Tiểu thi lệ cú vào thiên Thi ngôn tự phụ. Bốn chữ "niên phương thập nhị" trong thiên Thi ngôn tự phụ của bản Tuyển tập thơ văn Lý Trần được ngắt sang cho đoạn viết về Ái Sơn, vốn của thiên Tiểu thi lệ cú là sai. Đó là bốn chữ trong bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn mà hai câu đầu đã có trong bản của Tuyển tập thơ văn Lý Trần. Những chữ còn lại của bài thơ và đoạn cuối viết về Nguyễn Trung Ngạn đã bị mất trong bản của Tuyển tập thơ văn Lý Trần. Mấy câu thơ của Nguyễn Trung Ngạn bị mất trong bản của Tuyển tập thơ văn Lý Trần là: Niên phương thập nhị thái học sinh / Tài đăng thập lục sung đình thí / Nhị thập hựu tứ nhập gián quan / Nhị thập hựu lục Yên kinh sứ. Đọc thiên Thi ngôn tự phụ của Tuyển tập thơ văn Lý Trần có thể thấy phần cuối chẳng ăn nhập gì với tên bài Thi ngôn tự phụ. Ngoài ra, có thể nhận thấy thiên Thi ngôn tự phụ này cũng giống như đoạn viết về Nguyễn Trung Ngạn trong Đại Việt sử ký toàn thư. Điểm này càng khẳng định thêm Đại Việt sử ký toàn thư đã chép một số chuyện trong Nam ông mộng lục.

Monday, July 7, 2008

Solaris

Nếu người được lưu giữ sâu sắc nhất trong ký ức bỗng hiển hiện y như cái thưở đã khắc vào trí nhớ thì cuộc sống con người sẽ ra sao? Sẽ hạnh phúc hay bất hạnh? Tôi nghĩ tới câu hỏi này khi đọc tiểu thuyết Solaris của Lem và xem lại bộ phim cùng tên của Tarkovsky. Đấy không phải là câu hỏi của tiểu thuyết hay bộ phim, nhưng tôi lại muốn đặt một câu hỏi như vậy. Cả Lem và Tarkovsky đều bỏ qua vấn đề thời gian. Trong ký ức người đấy mãi ở thời xa xưa đó, còn người mang ký ức lại đang ở thời hiện tại. Một khoảng cách thời gian làm sao có thể xóa nhòa? Những trải nghiệm khác nhau sẽ dẫn tới những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi. Đó sẽ là một thảm họa. Một bi kịch. Em mãi là hai mươi tuổi / Ta mãi là mùa xanh xưa / Những cây ổi thơm ngày đấy / Và vầng hoa ngâu mưa thu / Tóc anh đã thành mây trắng / Mắt em dáng thời gian qua. Những câu thơ rất quyến rũ. Nhưng cái quyến rũ đó không thể làm sao để ký ức, vốn là cái của thời quá khứ và con người, vốn đang ở thời hiện tại cùng trôi theo thời gian như nhau, cùng già theo năm tháng như nhau.

Khoa học viễn tưởng, không phải chỉ để tiên đoán cái tương lai sẽ tới của nhân loại, cái ý nghĩa rất tầm thường của nó, mà để tạo ra những tình thế nhân sinh của con người hiện tại để phác lộ những bí ẩn của con người ở chính hiện tại này. Khoa học viễn tưởng là tiểu thuyết về thời hiện tại. Tôi nghĩ về các tác phẩm khoa học viễn tưởng, về Solaris như vậy. Đại dương, sinh vật trí tuệ duy nhất của hành tinh Solaris chỉ là cái vẻ ngoài màu mè giả tưởng của cái cốt lõi tạo ra những tình thế nhân sinh để nhân vật trải nghiệm và phác lộ bản chất con người. Khám phá con người chính là nhiệm vụ nặng nề và cơ bản của Thời Hiện đại. Chính ở khía cạnh này mà tôi thích bộ phim của Tarkovsky hơn truyện của Lem. Cả Tarkovsky và Lem đều không hài lòng về bộ phim, nhưng lý do không hài lòng lại khác nhau. Tarkovsky cho rằng bộ phim Solaris vẫn còn phải mang dáng dấp của một bộ phim khoa học viễn tưởng. Ông không thể nào xóa nổi cái thể loại này ra khỏi bộ phim. Còn Lem lại cho rằng Tarkovsky đã phản bội và bóp méo tác phẩm của ông. Solaris mang đậm phong cách của Tarkovsky, tính thơ và con người trong điện ảnh. Những cảnh quay rất chậm và dài, những cặp mắt bất động nhìn thẳng vào ống kính, các vật được sắp xếp theo một trật tự rất khó giải thích như vốn có của thơ, của con người.

Solaris là bộ phim của Tarkovsky đầu tiên mà tôi được xem. Nhờ có nó mà tôi biết đến Tarkovsky và biết đến Lem. Một ký ức. Em mãi là hai mươi tuổi / Ta mãi là mùa xanh xưa / Bộ phim ta xem ngày đấy / Và những lá vàng mùa thu. Ở bầu trời mùa thu tím sẫm vẫn lấp lánh một vì sao Solaris.