Monday, May 26, 2008

Địa giới Hà Nội ngày xưa

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Hà Nội ngày xưa không nhỏ như chúng ta thường nghĩ. Có những thời kỳ Hà Nội ngày xưa còn lớn hơn Hà Nội hôm nay. Hà Nội tuy có những tên gọi khác nhau ở những thời kỳ khác nhau nhưng đều bao gồm kinh thành hay tỉnh thành và phủ bao quanh. Có thể hình dung kinh thành như nội thành, và phủ như là ngoại thành. Thời nhà Lý Hà Nội có kinh thành với tên gọi là Thăng Long và phủ Ứng Thiên. Đến nhà Trần đổi thành Trung Kinh. Theo Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí phủ Ứng Thiên bao gồm các huyện Thanh Oai, Chương Đức (Chương Mỹ ngày nay), Sơn Minh (Sơn Lãng) và Hoài An. Như vậy phủ Ứng Thiên chủ yếu là đất một số huyện của Hà Tây ngày nay. Đến thời kỳ bị nhà Minh đô hộ, Hà Nội được gọi là Đông Quan là trị sở của 3 ty phủ Giao Châu. Đại Nam nhất thống chí dẫn theo Đại Thanh nhất thống chí chép phủ Giao Châu lãnh 5 châu là Phúc Yên, Uy Man, Lị Nhân, Từ Liêm và Tam Đái, 13 huyện bao gồm các huyện thuộc Hà Tây và Hà Nam ngày nay. Đến nhà Nguyễn thời Minh Mạng Hà Nội bao gồm phần Hà Nội hiện nay ở phía nam sông Hồng, toàn bộ Hà Tây trừ Sơn Tây và Hà Nam, như bản đồ dưới đây
Photobucket

Thời nhà Nguyễn chế độ hành chính của Hà Nội bao gồm tỉnh, phủ và huyện. Hình thức này khác với ngày nay chỉ khi chế độ hành chính chỉ có tỉnh và huyện, không có phủ. Hà Nội lúc đó có phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa và Lý Nhân. Hà Tây và Hà Nam là các đơn vị hành chính do người Pháp tạo ra, tách ra từ tỉnh Hà Nội thời nhà Nguyễn. Dư địa chí lịch sử của Việt Nam không có hai tên gọi này. Có thời kỳ chúng nằm trong tên gọi Sơn Nam.

Tôi không rõ đâu là cơ sở của phân chia địa giới các tỉnh thành. Nhưng tôi nghĩ rằng địa giới được phân chia chắc phải do kinh tế chi phối. Các sách dư địa chí ngày xưa cho rằng phân chia địa giới được dựa trên phong thổ. Tôi không hiểu rõ khái niệm "phong thổ" này, nhưng đặc điểm dễ hình dung nhất là sự phân chia do sông và núi. Hà Nội ngày xưa giới hạn với Kinh Bắc bằng sông Hồng. Đất Hà Tĩnh phân chia với đất Quảng Bình bằng đèo Ngang. Phân chia kiểu này cũng dễ hình dung. Nói chung Hà Nội là vùng đất do các sông hoạch định như tên gọi của nó. Tùy từng thời kỳ mà có thể hình dung Hà Nội là vùng đất nằm trong sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu, hay Hà Nội là vùng đất nằm trong sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy.

Tôi nghĩ rằng mở rộng hay thu hẹp một tỉnh thành nào đó cần phải hiểu cơ chế phân chia địa giới. Nếu không hiểu rõ cơ sở của phân chia địa giới thì việc thay đổi địa giới chỉ thuần túy là mệnh lệnh hành chính và khó có thể thành công. Sự phá sản của kế hoạch mở rộng Hà Nội hồi thập niên 80 bao gồm toàn bộ Sơn Tây và Mê Linh là một bài học.

Saturday, May 17, 2008

Lại nói về tính trung thực của nhà báo

Dưới đây là một đoạn trong bài viết Lại nói về tính trung thực của nhà báo trên trang web của Hội Nhà báo Việt Nam. Đoạn này nói về những chuyện liên quan đến vụ PMU18. Tôi copy đoạn này về đây để làm tư liệu. Không rõ tác giả V.L. là ai.

Lại nói về tính trung thực của nhà báo

5)Trung thực khi thông tin về những vụ việc tiêu cực. Trong cuộc chiến chống tham nhũng và sự tha hoá về phẩm cách của con người, tôi nghĩ, sức mạnh của mỗi bài báo là tính nhanh nhạy của sự phản ánh kịp thời, sốt dẻo, là tính sắc bén của những khía cạnh vấn đề mà tác giả khai thác, khám phá, điều tra. Nhưng, giá trị đó có được thì trước hết là tính chân thực của bài báo và độ chuẩn xác của thông tin, của những chi tiết mà bài báo đưa ra. Giá trị bài báo sẽ mất hết, có khi còn phản tác dụng nếu tác giả làm ngược lại điều đó.

Tôi xin dẫn chứng một vài trường hợp đã xảy ra và có thể còn xảy ra nếu nhà báo thiếu tỉnh táo và còn tiếp tục “lao” theo kiểu “chụp giật” thông tin, chưa có sự kiểm chứng, hoặc không cần kiểm chứng, miễn rằng mình có được thông tin sớm, báo có được sự kiện “tươi rói” để thu hút người đọc và thể hiện tính “vượt trội” của bản báo mình. Kiểu đó không ít nhiều đã gây tai hại cho nhiều phía: Phía người đọc, vì đã nhận nhầm thông tin; Phía toà báo vì cung cấp thông tin thiếu chính xác; Phía cơ quan điều tra mất công thẩm định, kiểm chứng làm rõ; Phía người được báo đề cập thì chịu thất thiệt về uy tín và dĩ nhiên là phản ứng, kêu kiện. Chung quy là nhà báo và toà báo bị suy giảm lòng tin và sự mến mộ của nhân dân và người đọc. Đó là, những trường hợp đã “xảy ra” tại “vụ án PMU 18” sôi động và đang trong quá trình điều tra phá án. Như trường hợp Bộ Công an phải ra thông báo để khẳng định thông tin mà báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, trong các số báo ra ngày 12 và 13/4/2006 đưa tin có 3 chiếc xe ô tô nghi vấn do Bùi Tiến Dũng mua tặng, trong đó có một chiếc cho con trai một đồng chí lãnh đạo Bộ Công an sử dụng là không chính xác, không có trường hợp nào như vậy và yêu cầu 2 toà báo phải cải chính kịp thời. Lại nữa, cũng có một vài tờ báo ra ngày 16/4/2006 đưa tin: “Cơ quan điều tra đang làm rõ một tin nhắn cho “Dũng Huế” biết sẽ bị bắt sau khi xuống sân bay”. Và Dũng tặng cho một cô bạn gái 1 điện thoại di động và 4 sim”. Các nguồn tin thiếu cơ sở này đã bị thiếu tướng Cục trưởng C14, Phạm Xuân Quắc, Trưởng ban chuyên án 420 B bác bỏ vì thông tin hoàn toàn sai sự thật. Lại một trường hợp nữa, một tờ báo đưa thông tin hoàn toàn không có thật và không có một căn cứ nào về việc Phạm Tiến Dũng – nguyên Trưởng phòng kinh tế – kế hoạch PMU 18 đã nhờ Vũ Việt Dũng (tức Dũng “tôn”). Giám đốc Công ty Bắc Nam đem 50.000 USD đến nhờ tướng Quắc giúp đỡ. Tuy nhiên ông Quắc đã đuổi Vũ Tiến Dũng về. Thông tin “nghe đâu” ấy đã phải khiến tướng Quắc báo cáo với Bộ trưởng Bộ Công an để chứng minh sự thật (tức không thể có chuyện ấy xảy ra đối với một vị tướng nổi tiếng cương trực, thẳng thắn và cương quyết trấn áp tội phạm xưa nay của ông). Và…. không ít trường hợp khác nữa mà báo chí đã “ăn xổi” “ăn non” thông tin mới khai thác, tìm kiếm chưa được xử lý đến nơi đến chốn rõ ràng đối với diễn biến phức tạp của quá trình “Ban chuyên án 420B” đang nỗ lực điều tra, khám phá, phanh phui về PMU 18 để đưa ra ánh sáng “toàn cảnh” của vụ án.

Từ những vấn đề mà tôi đã đề cập trên đây về tính trung thực mà mỗi một người làm báo không thể không “vun đắp”, “tu nghiệp” để xây dựng sự nghiệp làm báo của mình, để thực sự có được danh thơm đúng nghĩa của nó. Chứ không thể dựa vào uy tín cả làng “để ăn theo” trong khi bản thân mình không chịu rèn luyện, tu dưỡng. Nếu vậy, sẽ dẫn đến tình trạng “con sâu bỏ rầu nồi canh” cho làng báo chí mà thôi.

Một suy nghĩ nữa, mà tôi cũng muốn được bày tỏ là, một số bài báo hiện nay khi đưa tin đều có câu đề dẫn đầy lấp lửng là “Dẫn theo nguồn tin đáng tin cậy”, không rõ nguồn tin nào do đâu cung cấp và đáng tin cậy chưa? Chỉ cần “trưng” ra thế là lôi cuốn được người đọc và người đọc có thể tin là thật rồi chăng? Và nếu có điều gì xảy ra thì “úm ba la! Chúng ta cùng chịu!”. Thật oái oăm thay cho sự gây “nhiễu” thông tin kiểu “câu khách” thiếu trung thực này!

V.L


Friday, May 16, 2008

Saturday, May 10, 2008

Di chúc bị phản bội

Cuối cùng người con trai của Nabokov đã quyết định xuất bản bản thảo Nguyên mẫu của Laura mà Nabokov trước khi mất đã yêu cầu thiêu hủy. The New York Times có bài trò chuyện với người con của Nabokov. Chuyện này cứ nhùng nhằng, bàn tán mãi, khiến tôi đâm ngờ không biết có phải là một chiêu quảng cáo hay không. Khi được hỏi ai là người sẽ cảm kích tiểu thuyết này nhất, học giả, độc giả hay cả hai, con trai của Nabokov trả lời: cha của ông có lần nói rằng độc giả lý tưởng của ông là người ông trông thấy trong gương cạo râu mỗi sáng.

Friday, May 9, 2008

Mưa

Suốt tối trời mưa. Tôi không chắc có phải là trận mưa đầu mùa không. Mưa đầu hạ. Trận mưa không phải là cơn mưa rào ào ạt, cũng không phải là trận mưa phùn lay lắt. Có chút gì đó lai rai, có chút gì đó dồn dập. Tôi không biết gọi là mưa gì.

Thư phòng của Lỗ Tấn có tên "Khổ vũ", Tô Đông Pha có đề tên đình "Hỷ vũ". Một cơn mưa khổ, một trận mưa vui. Trận mưa tối nay là vui hay khổ? Căn phòng của tôi không có tên, mà nếu như có đặt tên thì chắc gì đã có chữ "vũ".

Người đời hay làm thơ về mưa xuân, mưa thu, mưa đông. Mưa mùa hạ tôi ít đọc thấy. Mưa cũng là một tâm trạng của con người. Nguyễn Trãi nghe mưa suốt đêm thấy "Tiêu tao kinh khách chẩm / Điểm trích sổ tàn canh" (Tiếng lộp độp làm kinh gối khách / Giọt rơi đếm canh tàn). Cao Bá Quát lại thấy "Bạo vũ khuynh thiên lậu / Phi đào táp địa lai" (Mưa dữ nghiên trời đổ nước xuống / Sóng tung tóe tràn mặt đất). Tôi không biết có bao giờ Nguyễn Trãi hạ bút viết "bạo vũ" hay Cao Bá Quát viết về mưa "tiêu tao" không. Nhưng tôi tin rằng họ không thể viết như vậy. Chẳng phải vì Nguyễn Trãi chẳng bao giờ thấy cơn mưa nghiêng trời đổ nước hay Cao Bá Quát chưa bao giờ nghe tiếng mưa như giọt nước đồng hồ. Họ là những con người với những bản chất khác nhau. Mà những bản chất đó lại rất chân thật ở thơ. Đọc thơ ta thấy những con người, tuy thơ không nói về người mà nói về những trận mưa.

Lý Nghĩa Sơn có viết "Hà đương cộng tiễn tây song chúc / Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì". Không biết bao giờ lại cùng nhau gạt ngọn nến bên song tây để kể cho nhau nghe về đêm mưa ở Ba Sơn. Nghĩa Sơn không viết về "đông song", chữ "đông" cũng hợp luật thơ, ông viết một "tây song". Một mái tây trong một đêm mưa với một ngọn nến hai người. Nhất định phải là mái tây. Cái âm hưởng của mái tây nghe man mác buồn buồn. Ở một nền văn hóa khác rất khó cảm được mái tây cho dù có đọc Vương Thực Phủ đi nữa. Mưa ở Ba Sơn. Mưa ở đó thê nào? Tôi không biết. Tôi chẳng đang nghe tiếng mưa ở Hà thành hay sao?

Wednesday, May 7, 2008

Xuân vọng

Tôi không biết tại sao tôi lại chợt nhớ tới mấy câu thơ trong bài thơ Xuân vọng của Đỗ Phủ. Nhiều khi những ý tứ chợt đến mà không thể rạch ròi được tại sao, vì sao, từ đâu. Mấy câu thơ này tuy toàn chữ Hán nhưng lại dễ hiểu đối với người Việt, có thể hiểu mà không cần dịch

Quốc phá sơn hà tại
Thành xuân thảo mộc thâm
Cảm thời hoa tiễn lệ
Hận biệt điểu kinh tâm

Người đời thường cho rằng Đỗ Phủ làm bài thơ này vào mùa xuân. Tôi lại nghĩ rằng mùa xuân trong bài thơ đã hết, đã là quá vãng, chỉ còn lại trong mộng tưởng. Tôi vẫn nghĩ "vọng" là một hành động gì đó không thể đạt được. "Xuân vọng" là mơ ước ngắm nhìn một mùa xuân, một hoài vọng với cái vừa qua, vừa mất, vừa mới đây thôi mà giờ đã là dĩ vãng. Thấy những thứ trôi tuột trên tay mà không biết phải làm sao có thể giữ lại và cũng không biết có nên cố giữ lại hay không, hay cứ thuận theo lẽ mà để trôi đi. Cứ phân vân như vậy, cứ rối bời như vậy, như quốc gia ngổn ngang trăm mối, tan hoang trong một sớm một chiều mà sông núi vô cảm trơ trơ giữa trời với đất, như cây cỏ um tùm khi xuân đang trôi tuột qua một mảnh thành, như những bông hoa linh cảm ứa lệ thời vừa mất, như chim muông xao xác nỗi biệt ly. Tôi nghĩ về câu thơ như vậy. Tôi không rõ tại sao lại nghĩ như thế. Mấy câu thơ này chắc đã được bình giảng nhẵn thín trong các trang sách rồi. Nhưng tôi cảm thấy như vừa mới đọc đâu đây, như hiện tại khó nắm bắt và khó hiểu này.