Friday, July 27, 2007

Đọc thơ: Trong nghĩa trang liệt sĩ

Đây là một bài thơ của Nguyễn Thị Hồng. Tra Google tiểu sử nhà thơ này chỉ thấy ghi sinh năm 1948, tại Yên Bái, bút danh Mai Hồng. Còn là tác giả bài thơ Lời tượng nhà mồ. Có một GS vật lý mang tên Nguyễn Thị Hồng, nghe nói cũng làm thơ, không biết có phải là nhà thơ Nguyễn Thị Hồng này không? [Nếu Er. có đọc những dòng này, có thể cho biết được không?]

Có lần tôi từng đến nghĩa trang Trường Sơn. Nhưng ấn tượng để lại trong tôi không phải là nghĩa trang buổi ấy. Hôm đấy trời mưa. Tôi ngồi trong xe trông thấy có một người phụ nữ đèo củi ra chợ bán. Chợ cũng nằm trên đường, dưới trời mưa. Người phụ nữ chỉ có một chiếc áo mưa. Nhưng chiếc áo mưa lại để che bó củi khỏi ướt, còn mình thì cứ trần trụi trong cơn mưa. Củi khô mới có người mua. Giá như tôi biết vẽ, tôi sẽ ghi lại hình ảnh đấy. Một màn mưa. Một con đường. Một vệt núi xa mờ trong mưa. Một người phụ nữ. Một chiếc xe đạp. Một bó củi. Một chiếc áo mưa.

Nơi hè hội vẫn trống chiêng
Át sao được Sự-Lặng-Im-Không-Lời


Trong nghĩa trang liệt sĩ

Hãy yên nghỉ đi anh, người chiến sĩ
Dù quê anh nơi nào
Dù anh là ai
Sự hi sinh của anh là cao cả

Chỉ cần thế là đủ
Lời ru đã cũ xưa rồi !

Tại sao lại là vô danh
Khi mỗi con người sinh ra là một thực thể?
Tại sao lại là vô danh
Khi mỗi người trong các anh
Đã để lại trên mặt đất
Một người mẹ
Một người cha
Một người chị
Một người vợ
Tại sao lại là vô danh
Khi mỗi các anh
Ra đi
Đều từ một mái nhà có thực!

Hãy trả lời đi, hỡi những bia mộ trắng tinh
Chỉ có ngày hi sinh và ba tiếng BỘ ĐỘI BẮC lạnh lùng

Anh sinh ra từ đâu?
Đất Kinh Bắc có sông Cầu lơ thơ
Hay từ sông Chảy đôi bờ
Sông Hồng mùa nước sóng xô mạn thuyền...
Nơi ấy có
Nhà ai xây dở bậc thềm
Hay nhà anh -
Vợ góa lặng im một đời...

( Sự lặng im vốn không lời
Mấy ai đã hiểu đôi hồi lặng im
Nơi hè hội vẫn trống chiêng
Át sao được Sự-Lặng-Im-Không-Lời )

Sao anh lại cứ lặng im
Khoảng trống trên bia mộ ơi tim tôi vỡ mất...

Nguyễn Thị Hồng
4/1984


Thursday, July 19, 2007

Phong lai quân tương ức

Đây là bài thơ trong bộ phim Hoàng cung của Hàn Quốc. Bài thơ này ghi trên bức tranh Quân tương ức. Một bài thơ thuộc loại "chúc cẩm hồi văn". Ghi lại.

Ức quân vô sở tặng
Tặng thứ nhất phiến trúc
Trúc gian sinh thanh phong
Phong lai quân tương ức

Nhớ người không biết tặng gì. Tặng một chiếc quạt trúc. Quạt trúc sinh ra gió mát. Gió tới cùng nhớ nhau. Bài thơ này cũng bình thường. Nhưng mỗi khi nghe thấy có bài thơ đọc bằng chữ Hán tôi lại cảm thấy có cảm giác rất lạ.

Tuesday, July 17, 2007

Habanera

Habanera là một khúc aria trong vở Carmen của Bizet.

Đây là giọng ca của Nana Mouskouri







Comments

(3 total)















Bài này em cũng có nhiều nhưng giờ chỉ có mỗi bản này:

http://www.box.net/shared/f4kzy2q0y5



http://apomethe.dajoob.com/Waxman-Bizet%20-%20Carmen%20Fantasy.mp3


Wednesday July 18, 2007 - 12:43pm (MSD)

















Tango Habanera :)



Habanera là tên bài này hay là có một điệu tango gọi là "Habanera", anh/chú/bác Đông A?


Thursday July 19, 2007 - 10:53pm (ICT)

















Vâng Habanera là tên gọi phổ biến của bản aria này, cũng là tên một nhịp điệu giống tango. Bizet đã sử dụng điệu habanera để viết bản aria này.


Thursday July 19, 2007 - 12:05pm (EDT)



















You must be a member of Yahoo! 360° to comment on this blog entry.










HIGHLIGHTED POSTS














Tags: amnhac, bizet



Tuesday July 17, 2007 - 07:10am (EDT)



Saturday, July 14, 2007

Hiệp

"Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, người con gái trang điểm cho kẻ mình yêu."

Câu phương ngôn này của người Trung Quốc nói về kẻ sĩ. Tôi nghĩ kẻ sĩ ở đây chính là nho và hiệp. Tư Mã Thiên viết: "Hàn Phi nói: "Bọn nho lấy lời văn làm rối pháp luật, bọn du hiệp lấy võ lực phạm vào việc ngăn cấm." Hai hạng này đều bị chê bai. Tuy vậy các nho sĩ thường vẫn được lời khen." Lời của Thái sử công cho biết trong xã hội Trung Quốc bọn du hiệp thường bị chê bai. Tôi nhớ tới câu phương ngôn này, nhớ tới lời của Tư Mã Thiên này vì đang đọc bài phỏng vấn Nghi ngờ giá trị tinh thần của Thủy Hử của Bill Jenner. Khi nhắc đến tinh thần văn chương thế giới của Goethe tôi đã cảm thấy nghi ngờ liệu có học giả phương Tây nào hiểu được Thủy Hử. Linh cảm của tôi cũng không đến nỗi tệ.

Tại sao một cuốn tiểu thuyết nhất định phải có giá trị tinh thần? Nếu cuốn tiểu thuyết đó không có giá trị tinh thần gì thì nó không có giá trị gì sao? Tiểu thuyết không phải là sách sử, không phải là một thứ Xuân Thu để đề cao đạo lý nào đó, lại càng không phải là một giáo khoa thư về đạo đức. Tiểu thuyết là nơi sáng tạo ra những tình thế nhân sinh, thử nghiệm những trải nghiệm của con người mà khoa học và con người không thể trực tiếp khám phá. Chúng ta không thể biết được liệu có một Lý Quỳ, một Võ Tòng ở ngoài đời thực. Nhưng Lý Quỳ, Võ Tòng trong Thủy Hử là những tình thế nhân sinh, là những trải nghiệm của con người được tưởng tượng ra để khám phá những bản chất thuộc về con người. Thủy Hử là một tác phẩm khám phá bản chất hiệp thông qua những biểu hiện tình thế nhân sinh của nó dưới những hình thức khác nhau. Có cái tình thế nhân sinh của bản chất hiệp ở dạng Lý Quỳ, có cái ở dạng Võ Tòng hay ở dạng Lỗ Trí Thâm. Tôi đọc Thủy Hử đến chỗ Lý Quỳ giết một em bé con quan để ép người gia nhập Lương Sơn, không khỏi khó chịu trong lòng. Nhưng cái khó chịu này cho biết những mặt trái của hiệp. Tiểu thuyết đã cho chúng ta một cuộc thử nghiệm về nhân sinh mà cuộc đời không có được.

Hiệp luôn luôn đi cùng với nghĩa. Cái khó lý giải, khó hiểu nhất trong văn hóa Trung Quốc là nghĩa. Nhị thập tứ hiếu bị đả phá cũng vì chữ nghĩa. Trong Luận ngữ, Khổng tử có nói: "Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mạc dã, nghĩa chi ư bỉ", người quân tử ở trong thiên hạ, không chủ trương phải làm thế này hay không được làm thế này, mà cứ hợp nghĩa thì làm. Thế nào là hợp nghĩa? Không có một cái nghĩa phổ quát vì nếu có một cái nghĩa như thế thì hóa ra chẳng phải là phải làm thế này, không được làm thế kia còn gì. Nghĩa là một khái niệm địa phương, tùy theo từng người, tùy theo thời gian. Nghĩa linh động, đa dạng, phong phú như cõi nhân sinh đầy ắp con người này. Đọc sách về hiệp phải có cái nhìn bao quát về nghĩa. Nghĩa của mỗi người như một paradigm. Không thể phán xét từ một paradigm này về một paradigm khác.

Trung Quốc có truyền thống văn học viết về hiệp. Từ những truyện truyền kỳ thời Đường như Nhiễm Cầu khách đến Thất hiệp ngũ nghĩa, và cho đến truyện kiếm hiệp ngày nay. Một truyền thống dài hơn cả nghìn năm. Một sức sống bền bỉ đáng kinh ngạc. Thủy Hử nổi bật trên cái phông cả nghìn năm đó, nhìn trước không thấy có ai, nhìn sau cũng "không có ai bè bạn nổi cùng ta". Hiện tượng này đòi hỏi phải có một thẩm mỹ, một lý thuyết văn học cho Thủy Hử. Có thể đã có những lý thuyết văn học để thẩm mỹ Thủy Hử mà tôi không biết. Nhưng ít nhất Thánh Thán đã viết về nó.


Tristesse hay khúc ca buồn

Đây là khúc ca dựa trên bản Etude, Mi trưởng của Chopin.

Dưới đây là giọng ca của Jose Carreras








Comments

(2 total)















http://apomethe.dajoob.com/Cherkassky%20-%20Chopin/12.%20Etude%20for%20piano%20No.%203%20in%20E%20major%20(Tristesse)%20Op.%20103,%20B.%2074.mp3



Em này trẻ mới nổi nhưng mình chưa kết lắm,

http://www.esnips.com/doc/d793887e-ebc5-4cc9-a2b2-a3925acef34b/So-Deep-Is-The-Night---Lesley-Garrett


Wednesday July 18, 2007 - 12:34pm (MSD)

















Ô, cũng hay đấy nhỉ, thêm bản tiếng Anh nữa. Không biết có bản tiếng Nga không?


Wednesday July 18, 2007 - 11:46am (EDT)



















You must be a member of Yahoo! 360° to comment on this blog entry.










HIGHLIGHTED POSTS

















Saturday July 14, 2007 - 08:54am (EDT)



Wednesday, July 11, 2007

Dọn vườn: lệ chi

Một bài báo viết rằng lệ chi, tên chữ Hán của quả vải, là nước mắt trên cành. Tác giả bài báo này và cả biên tập của Vietnamnet vừa dốt tiếng Việt, vừa dốt Hán-Việt. Lệ chi, chữ Hán là 荔枝. Chữ lệ (荔) ở đây chẳng có liên quan gì đến chữ lệ (淚) có nghĩa là nước mắt. Ngoài ra nếu muốn nói là nước mắt trên cành thì phải nói là chi lệ chứ sao lại là lệ chi được.

Chữ lệ
(荔) cấu trúc theo hài thanh của chữ 劦, gồm ba chữ lực hợp lại. Thư tịch cổ của Trung Quốc viết lệ chi là 離枝 (ly chi). Thời nhà Đường Dương Quý Phi thích ăn vải, Đường Huyền Tông sai người từ Lĩnh Nam tiến vải. Đỗ Mục có bài thơ về chuyện này, trong đó có câu "Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu / Vô nhân tri thị lệ chi lai." Do đó quả vải còn có tên là "phi tử tiếu", nàng phi cười. Cười chứ không có khóc hay nước mắt gì hết.