Saturday, April 21, 2007

Xem phim: Hoàng kim giáp

Tên phim: Mãn thành tận đái hoàng kim giáp
Đạo diễn: Trương Nghệ Mưu
Diễn viên: Châu Nhuận Phát, Củng Lợi, Chu Kiệt Luân, Lưu Diệp ...


Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát
Ngã hoa khai hậu bách hoa sát
Xung thiên hương trận thấu Trường An
Mãn thành tận đái hoàng kim giáp
Hoàng Sào

Trùng cửu thu sang đợi sát ngày
Hoa ta nở giết vạn hoa bay
Trường An hương đẫm xông trời thẳm
Khắp chốn hoàng kim giáp trụ đầy
(Đông A dịch)

Câu thơ của Hoàng Sào "Mãn thành tận đái hoàng kim giáp" trong bài "Bất đệ hậu phú cúc" (Viết về hoa cúc sau khi thi hỏng) được Trương Nghệ Mưu lựa chọn làm nhan đề cho bộ phim. Tên bộ phim như vậy hơi dài tuy nó mang một tứ thơ. Tứ thơ của Hoàng Sào, tứ thơ báo trước một cuộc khởi nghĩa sẽ làm khuynh đảo đất nước, tứ thơ về tiết Trùng Cửu, về mùa thu, hoa cúc. Tiết Trùng Cửu ở Trung Quốc là ngày lễ về đoàn tụ gia đình. Một nhan đề phim như vậy hẳn sẽ phần nào mang hàm ý của bộ phim.

Hoàng kim giáp được xây dựng dựa trên cốt truyện vở kịch Lôi vũ của Tào Ngu. Có thể thấy một song ánh rõ ràng giữa Hoàng kim giápLôi vũ: vị hoàng đế chính là Chu Phác Viên, hoàng hậu chính là Phồn Y, thái tử Nguyên Tường chính là Chu Bình, nhị hoàng tử Nguyên Kiệt chính là Chu Xung, Tưởng thái y chính là Lỗ Quý, Tưởng thị chính là Thị Bình và Tưởng Thiền chính là Lỗ Tứ Phượng. Chỉ có Lỗ Đại Hải trong Lôi vũ là không có mặt trong phim và thay thế vào đó là tiểu hoàng tử Nguyên Thành. Quan hệ tình yêu phức hợp giữa Phồn Y - Chu Bình và Chu Bình - Tứ Phượng - Chu Xung trong Lôi vũ giờ được giản lược thành quan hệ tình yêu tay ba giữa hoàng hậu - thái tử - cung nữ. Như vậy Trương Nghệ Mưu đã bê gần như nguyên xi Lôi vũ vào bối cảnh nhà Đường trong một hoàng cung. Những bi kịch trong gia đình họ Chu ở đầu thế kỷ 20 được đẩy về hơn mười thế kỷ trước vào một hoàng gia. Tấn bi kịch Lôi vũ giờ đây được khoác chiếc áo cổ trang của một triều đại. Tuy vậy trong Lôi vũ nhân vật Chu Xung tương đối mờ nhạt và cái chết của Tứ Phượng và Chu Xung là do dàn dựng, không phải do những diễn biến của vở kịch thúc đẩy. Trong Hoàng kim giáp, nhân vật Nguyên Kiệt tương đối rõ nét, và nhân vật hoàng đế mang tất cả tính độc đoán và là tác nhân tạo ra tất cả những cái chết trong bộ phim. Có thể nói ở Hoàng kim giáp bi kịch được đẩy tới đỉnh điểm và là điều tất yếu phải xảy ra theo diễn biến của cốt truyện. Về mặt này tính bi kịch của Hoàng kim giáp được xử lý tốt hơn so với Lôi vũ.

Vậy Hoàng kim giáp chỉ là một bi kịch thuần túy hay còn có chứa những hàm ý chính trị? Điều này tùy thuộc vào từng người xem. Nhưng có thể thấy rõ ràng là vị hoàng đế sẵn sàng hy sinh tất cả để giữ vững quyền lực và trật tự. Phải chăng đây chính là thông điệp chính trị của bộ phim được sản sinh ra từ một nền "văn hóa ăn thịt người"?

Hoàng kim giáp tiếp tục là một "tái lai" giữa Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi, hai ngôi sao sáng chói trên bầu trời điện ảnh Trung Quốc. Củng Lợi vẫn luôn khẳng định mình bằng những diễn xuất của một ngôi sao thượng hạng. Bộ phim hoành tráng với những cảnh quay đầy màu sắc. Lần đầu tiên khán giả sẽ thấy những cấu trúc của một hoàng cung khác với những hoàng cung Trung Hoa truyền thống thường thấy. Hoàng cung trong Hoàng kim giáp tương đối bó hẹp, khép kín và mang màu sắc kịch. Nhưng nói chung ở Hoàng kim giáp không thấy có những sáng tạo đột phá hay mới mẻ trong dàn dựng và diễn xuất.

Thursday, April 12, 2007

Đọc sách: Con nhân mã ở trong vườn của Scliar

Tên sách: Con nhân mã ở trong vườn
Tác giả: Moacyr Scliar
Dịch giả: Trịnh Lữ
Nhà xuất bản: Nhã Nam và Văn học (2006)


Khi hiện thực và phi thực là một hiện thực


Đây là cuốn truyện của Scliar đầu tiên mà tôi được đọc. Thật bất ngờ, Scliar đã mở ra trước mắt tôi một thế giới thực mà phi thực nhưng lại tràn đầy hiện thực. Tôi không khỏi nhớ tới tinh thần Bát Nhã Ba La Mật: thực - không phải là thực - cho nên gọi là thực. Tôi không muốn gọi đó là "hiện thực kỳ ảo" như các nhà nghiên cứu văn học thường gọi tên. Tôi gọi đó là Phục Hưng, là quay trở lại với những con người cổ xưa, khi hiện thực và phi hiện thực không có ranh giới phân biệt, khi trí tưởng tượng của con người không có lằn ranh biên giới tách ra khỏi hiện thực khách quan, khi con người và vạn vật đồng nhất thành một thể. Đó là quay trở về với những huyền thoại, những câu chuyện cổ tích, những câu chuyện hoang đường. Đó là quay trở về thưở đỉnh Olympus còn ngự trị ở ngay giữa buôn làng. Đó là quay trở về với ý tưởng của Sọ Dừa, Tấm Cám, của Đam San, Xin Nhã. Lịch sử tiểu thuyết có những bước đi thật kỳ lạ. Từ khi Don Quixote xé toạc bức rèm kỳ ảo được dệt bằng các truyền thuyết, huyền thoại, tiểu thuyết bước vào một thời đại mới, Thời Hiện Đại, như Milan Kundera từng nhận xét. Cái thế giới mà Don Quixote bước vào tuy có thể lạ lẫm và nực cười, nhưng vẫn là một thế giới thực, một thế giới được cảm nhận trực tiếp bằng những giác quan của con người. Cái thế giới đó không có chỗ cho những hiện hữu của tưởng tượng vô biên. Ở đó không thể có cuộc tình giữa Odysseus và Calypso, cuộc tình giữa một con người và một vị thần. Ở đó chỉ có thể có tình yêu giữa con người với con người như giữa Odysseus và Penelope. Thời Hiện Đại đã đẩy nàng tiên cá, bà chúa tuyết về thế giới trẻ thơ hay thế giới của các câu chuyện cổ tích, cái thế giới không có tí gì chung với con người Thời Hiện Đại. Nhưng cũng chính tại Thời Hiện Đại này tiểu thuyết tìm về những ý tưởng kỳ ảo cổ xưa tưởng như đã mất, đã lụi tàn. Tuy tìm về những ý tưởng cổ xưa đó, tiểu thuyết Thời Hiện Đại không mất đi bản chất Thời Hiện Đại của mình, mà trái lại càng làm nổi bật hơn tính chất Thời Hiện Đại xuyên qua những hình tượng hay ẩn dụ vốn thuộc về trí tưởng tượng vô biên của thời đại cổ xưa đã không còn nữa. Con người Thời Hiện Đại và những tưởng tượng cổ xưa đấy có thể song hành trong cuộc đời thực không? Chỉ có tiểu thuyết mới có thể làm được công việc này, mới đưa ra được các tình thế nhân sinh vừa thực vừa phi thực để phát lộ những bản chất hiện thực của Thời Hiện Đại. Con nhân mã ở trong vườn là một tiểu thuyết như vậy.

Guedali Tartakowsky, nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết, sinh ra trong một gia đình Do Thái di cư từ Nga dưới hình hài một con nhân mã. Con nhân mã, đã không còn là con nhân mã của cái thưở các vị thần trên đỉnh Olympus còn đi về giữa chốn nhân gian, mà là con nhân mã của Thời Hiện Đại, một hiện hữu với bản chất con người bên cạnh một hình hài không phải con người. Một nội dung và hình thức đầy mâu thuẫn và trái ngược nhau. Một khao khát xóa bỏ hình thức vốn thuộc về bản chất của mình để hòa đồng với môi trường xung quanh, để rồi lại thất vọng và ước mơ có lại cái hình hài mà mình đã cố công xóa bỏ. Đó không phải chỉ là tình trạng lưỡng nan của riêng người Do Thái nhập cư, mà là tình thế nhân sinh của con người Thời Hiện Đại. Hòa và đồng là hai mặt hiện sinh của Thời Hiện Đại. Một triết thuyết Á Đông cổ xưa cho rằng "hòa nhi bất đồng", hòa nhập nhưng vẫn giữ bản sắc riêng, không đồng nhất. Guedali lúc ban đầu cũng muốn hòa nhập với cộng đồng mà vẫn mang hình hài của con nhân mã. Một thất bại đắng cay vì cộng đồng không thể hòa với cái bất đồng. Vấn đề hòa - đồng không còn phải chỉ là vấn đề từ một phía cá nhân, mà còn có cả vấn đề của phía ngược lại, từ cộng đồng tới cá nhân. Cộng đồng luôn tìm cách loại bỏ những yếu tố dị biệt, có nguy cơ làm tan rã tính bền vững và ổn định của nó. Thời Hiện Đại mang đến cho mỗi con người và cộng đồng xung quanh nó những mâu thuẫn không thể giải quyết được, từ mâu thuẫn nội tại của mỗi cá thể đến mâu thuẫn giữa cá thể và cộng đồng. Con nhân mã là một ẩn dụ cho những mâu thuẫn đó.

Friday, April 6, 2007

Cao Bá Quát: Độc dạ cảm hoài

獨 夜 感 懷

新 漲 生 殘 夜
初 寒 送 渺 秋
歲 時 雙 病 眼
天 地 一 詩 囚
倚 枕 看 長 劍
呼 燈 檢 敝 裘
彊 憐 心 力 在
羈 臥 不 禁 愁
高伯适

Độc Dạ Cảm Hoài

Tân trướng sinh tàn dạ
Sơ hàn tống miểu thu
Tuế thời song bệnh nhãn
Thiên địa nhất thi tù
Ỷ chẩm khan trường kiếm
Hô đăng kiểm tệ cừu
Cưỡng liên tâm lực tại
Cơ ngọa bất câm sầu
Cao Bá Quát

Dịch thơ:

Đêm một mình cảm nghĩ

Triều mới dâng đêm hết

Cuối thu chớm lạnh đưa
Tháng ngày đôi mắt bệnh
Trời đất một tù thơ
Tựa gối gươm dài ngó
Kêu đèn áo rách giơ
Gượng thương tâm lực có
Nằm nhốt sầu khôn ngơ
(Đông A dịch)

Trong lịch sử nhân loại có không ít nhà thơ chịu tù đầy, nhưng đã có mấy ai cảm nhận mình là một "thi tù". Từ thi thánh Đỗ Phủ đến thi bá Nguyễn Du đều từng chịu giam cầm nhưng nào có thấy cảm nhận tình thế một tù thơ như Cao Bá Quát. Cũng phải nói rằng hai chữ "thi tù" không phải là một phát kiến của Cao Bá Quát. Thời Tống nhà thơ Nguyên Hiếu Vấn từng sử dụng hai chữ này để chỉ Mạnh Giao. Trong "Luận thi tuyệt cú" Nguyên Hiếu Vấn viết

東野窮愁死不休
高天厚地一詩囚
江山萬古潮陽筆
合在元龍百尺樓
元好問

Đông Dã cùng sầu tử bất hưu
Cao thiên hậu địa nhất thi tù
Giang sơn vạn cổ Triều Dương bút
Hợp tại Nguyên Long Bách xích lâu
Nguyên Hiếu Vấn

Đến chết Mạnh Giao chẳng hết sầu
Tù thơ lồng lộng đất trời sâu
Non sông muôn thủa Triều Dương bút
Góp tại Nguyên Long Bách xích lầu
(Đông A dịch)

Nhưng khái niệm "thi tù" của Nguyên Hiếu Vấn hơi khác với khái niệm "thi tù" của Cao Bá Quát. Nguyên Hiếu Vấn muốn ám chỉ Mạnh Giao khổ sở vì thơ, trói buộc vào thơ, bị thơ cầm tù. Cao Bá Quát cũng là một tù thơ, nhưng là một tù nhân thơ, bị thế nhân cầm tù, vì thơ mà bị cầm tù chứ không phải bị thơ cầm tù. Nỗi đau của các thi nhân, nỗi khổ của các nhà thơ, từ Đông sang Tây, từ cổ tới kim, có nỗi đau nào giống nỗi đau nào, có nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào. Tất cả đều qua đi, những bóng lẻ loi chiếu lên thời gian, chỉ còn lại những chữ rỏ máu từ tận đáy lòng.

Francis Fukuyama viết:
“Những hoàn cảnh cách mạng không thể xảy ra ngoại trừ, ít nhất có một số người liều mình hi sinh mạng sống và những tiện nghi của mình cho một mục đích nào đấy. Sự can đảm ấy không thể khởi từ phần ham muốn của tâm hồn, mà phải là từ phần cảm nhận bẩm sinh của con người về công lý. Con người của dục vọng, con người kinh tế, những trưởng giả thực thụ, sẽ hành xử từ trong ‘phân tích - giá cả - lợi nhuận,’ điều này sẽ luôn cho anh ta lý do để làm việc ‘trong khuôn khổ hệ thống.’ Chỉ có những con người hành xử theo cảm nhận bẩm sinh của con người về công lý, con người nổi giận, con người lo lắng bảo vệ nhân phẩm cho chính mình và đồng bào của mình, con người cảm nhận giá trị của anh ta được tạo nên từ một cái gì khác hơn là phức hợp những dục vọng đã tạo nên sự hiện hữu vật chất cuả anh ta - chỉ có những con người này mới sẵn lòng bước tới trước đầu xe thiết giáp hoặc đương đầu với các binh sĩ (đàn áp). Và thường là trong các trường hợp, nếu không có những hành động can đảm nho nhỏ này để đáp trả với những hành động bất công nho nhỏ (tương ứng), thì toa xe chở những biến động đưa tới những thay đổi căn bản trong cấu trúc chính trị và kinh tế sẽ chẳng bao giờ xảy ra.” (theo Song Vũ, Talawas)

Tôi nghĩ con người mà Fukuyama nói đến, chính là Cao Bá Quát. Trên bình diện này có thể thấy sự khác nhau về bản chất con người giữa Chu Thần và Phương Đình, tuy hai người hay được nhắc đến như những người bạn thân, tài giỏi và nổi tiếng một thời. Không phải ai cũng có thể viết được "Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn / Mục Dã, Minh Đường hữu Võ Thang".

Tôi cứ nghĩ về hoa mai, về cặp liên đối của Cao Bá Quát

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa"

Không biết hoa mai có còn nở báo xuân về mỗi độ nữa không?