Showing posts with label nobel. Show all posts
Showing posts with label nobel. Show all posts

Thursday, October 9, 2008

Sensual ecstasy

Giải thưởng Nobel văn học năm nay được trao cho nhà văn Pháp Le Clezio. Lời dẫn của giải thưởng viết: "author of new departures, poetic adventure and sensual ecstasy, explorer of a humanity beyond and below the reigning civilization".

Lời dẫn này có từ sensual ecstasy, khiến cho tôi không khỏi không nhớ tới Milan Kundera. Không ai giải thích từ ecstasy hay hơn Kundera. Tôi vẫn chưa hiểu "below the reigning civilization" là nghĩa gì.

Updated

Tôi nghĩ rằng bây giờ tôi đã hiểu lời dẫn của giải thưởng Nobel. Beyond and below the reigning civilization là chỉ giới hạn của nền văn minh phương Tây. Vẫn có một nhân loại ở bên ngoài và bên dưới nền văn minh đấy. Tôi dịch lời dẫn giải thưởng Nobel như sau: "tác giả của những khởi hành mới, của cuộc phiêu lưu thi vị và trạng thái ngất ngây khoái cảm, người thám hiểm một nhân loại ở bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang ngự trị."


Trích từ Những di chúc bị phản bội, bản dịch của Nguyên Ngọc

Một cậu bé trai trong trạng thái ngây ngất

Ðương nhiên, không thể nói rằng âm nhạc (toàn bộ âm nhạc) không thể biểu hiện các tình cảm; âm nhạc thời đại chủ nghĩa lãng mạn là biểu cảm một cách chính thức và chính đáng; nhưng ngay cả về nền âm nhạc đó, vẫn có thể nói: giá trị của nó chẳng có gì chung với cường độ các tình cảm nó gây nên. Bởi âm nhạc có khả năng đánh thức dậy mạnh mẽ các tình cảm mà chẳng có chút nghệ thuật âm nhạc nào cả. Tôi nhớ lại hồi bé: ngồi ở piano, tôi mải mê theo những ứng tác hăng say chỉ cần dùng một hòa âm cung ut trưởng và âm át dưới fa thứ của nó, chơi cực mạnh và không dứt. Hai hòa âm và mô-típ giai điệu nguyên thủy không ngừng lặp lại gây cho tôi một xúc động mãnh liệt không một Chopin, một Beethoven nào từng gây nên được. (Một lần, bố tôi, là nhạc sỹ, hết sức giận dữ - tôi không bao giờ thấy ông giận dữ đến thế, cả trước lẫn sau lần đó - chạy vào phòng tôi, nhấc bổng tôi lên khỏi chiếc ghế con và mang tôi sang phòng ăn để đặt tôi dưới gầm bàn, với một sự ghê tởm cố nén lại.)

Ðiều tôi sống qua hồi đó, trong những ứng tác của tôi, là một cơn ngây ngất. Cơn ngây ngất là gì? Ðứa bé gõ trên phím cảm thấy một hứng thú (một nỗi buồn, một niềm vui) và cảm xúc dâng lên đến một cường độ cao tới mức không còn chịu nổi nữa: đứa bé chạy trốn trong một trạng thái mù quáng và điếc đặc trong đó mọi thứ đều bị quên bẵng đi hết, trong đó người ta quên mất cả chính mình. Bằng cơn ngây ngất, cảm xúc chạm đến cực điểm của nó, và như vậy, cùng lúc, đến sự phủ định của nó (đến sự quên bẵng mất nó).

Ngây ngất có nghĩa là "ở bên ngoài mình", như từ nguyên của từ Hy Lạp đã cho thấy: ra khỏi vị trí của mình (stasis[7 ]). ở "bên ngoài của mình" không có nghĩa là ở ngoài thời khắc hiện tại, theo kiểu như một người mơ mộng thoát về quá khứ hay tương lai. Ðích xác ngược lại: ngây ngất là đồng nhất hóa tuyệt đối với khoảnh khắc hiện tại, quên bặt hoàn toàn quá khứ và tương lai. Nếu ta xóa đi quá khứ và cả tương lai, giây phút hiện tại sẽ nằm trong không gian trống rỗng, ở bên ngoài cuộc sống và biên niên của nó, ở bên ngoài thời gian và độc lập đối với thời gian (chính vì vậy ta có thể ví nó với vĩnh hằng, cũng là sự phủ định thời gian).

Ta có thể thấy hình ảnh thính giác của xúc cảm trong giai điệu lãng mạn của Lied: độ kéo dài của nó dường như muốn duy trì, phát triển, để cho người ta nhấm nháp chậm rãi cảm xúc. Ngược lại, cơn ngây ngất không thể phản ánh trong một giai điệu, bởi ký ức bị cơn ngây ngất chẹt cứng lại không cho phép nhớ chung các nốt của một câu giai điệu dầu chỉ dài đôi chút; hình ảnh thính giác của cơn ngây ngất là tiếng thét (hay: một mô-típ rất ngắn bắt chước tiếng thét).

Ví dụ kinh điển của cơn ngây ngất là khoảnh khắc cực khoái. Ta hãy trở về cái thời phụ nữ còn chưa được biết đến lợi ích của viên thuốc tránh thai. Thường xảy ra chuyện một anh tình nhân lúc hứng lên quên tụt xuống kịp thời khỏi cơ thể người tình và làm cho cô ta trở thành mẹ, dầu mới mấy phút trước đó anh ta đã có ý định kiên quyết là phải cực kỳ cẩn thận. Giây phút ngây ngất khiến anh quên bẵng mất cả quyết định của mình (quá khứ tức thì của anh) lẫn các lợi ích của mình (tương lai của anh) .

Như vậy khoảnh khắc ngây ngất đặt trên bàn cân đã nặng hơn đứa con không mong muốn; và bởi vì đứa con không mong muốn, bằng sự hiện diện không mong muốn của nó, hẳn sẽ lấp đầy cả cuộc đời kẻ tình nhân, cho nên có thể nói một khoảnh khắc ngây ngất cân nặng hơn cả một cuộc đời. Cuộc đời của người tình đối mặt với khoảnh khắc ngây ngất gần như ỏ trong cùng một tình trạng thua kém giống hệt niềm tử tận đối mặt với sự vĩnh hằng. Con người ao ước sự vĩnh hằng nhưng nó chỉ có được thế phẩm của vĩnh hằng: khoảnh khắc ngây ngất.

Tôi nhớ lại một ngày trong thời trai trẻ của tôi: tôi ngồi cùng với một người bạn trong chiếc xe của cậu ấy; trước mặt chúng tôi, người ta đang đi ngang qua đường. Tôi nhận ra một người nào đó mà tôi không ưa và tôi đã chỉ người ấy cho cậu bạn: "Cán nát hắn ta đi!" Tất nhiên đấy chỉ là đùa, nhưng cậu bạn tôi đang ở trong một trạng thái sảng khoái kỳ lạ và cậu dấn ga. Người kia hoảng hốt, trượt chân, ngã. Cậu bạn tôi vừa kịp hãm xe đúng vào giây cuối. Người kia không bị thương, tuy nhiên người ta xúm lại quanh và muốn hành hung chúng tôi (tôi hiểu họ). Tuy nhiên bạn tôi đâu có lòng dạ sát nhân. Mấy từ của tôi đã đẩy cậu ta vào một cơn ngây ngất ngắn ngủi (vả chăng, đấy là một trong những cơn ngây ngất kỳ lạ nhất: cơn ngây ngất của một lời nói đùa).

Người ta thường quen gắn liền khái niệm cơn ngây ngất với những khoảnh khắc thần bí lớn. Nhưng có những cơn ngây ngất thường nhật, tầm thường, dung tục: cơn ngây ngất của sự tức giận, cơn ngây ngất của tốc độ trên tay lái, cơn ngây ngất của sự đinh tai vì tiếng ồn, cơn ngây ngất của các sân bóng. Sống, là một cố gắng nặng nhọc thường xuyên để đừng quên chính mình đi, luôn ở trong cái stasis của mình. Chỉ cần đi ra khỏi mình trong một khoảnh khắc, là người ta đã chạm đến lãnh địa của cái chết.

Tuesday, October 7, 2008

Thế giới đối xứng bị phá vỡ

Có những quan niệm về vẻ đẹp khác nhau. Có quan niệm cho rằng vẻ đẹp phải đăng đối, cân xứng. Vẻ đẹp kiến trúc cổ điển thường được biểu hiện ở tính đối xứng của cấu trúc. Tự nhiên, ở nhiều dạng tồn tại, cho thấy vẻ đẹp của mình ở dạng đối xứng. Chiếc lá phong mùa thu đỏ rực đối xứng qua một mặt gương đặt dọc theo sống lá chính. Giọt nước mưa tí tách rỏ xuống từ mái tranh trong một đêm thu đối xứng quanh trục quay dọc theo giọt nước. Thiên nhiên tưởng chừng như ưu ái vẻ đẹp đối xứng. Nhưng cái đối xứng của lá phong đó, của giọt nước mưa đó là đối xứng của hình khối. Ở đấy chưa có sự tác động của các quy luật vật lý của tự nhiên. Quy luật của tự nhiên dường như khởi đầu ở đối xứng và sau đó đã đánh mất đối xứng của mình, và kết quả chỉ còn lại một thế giới đối xứng đã bị phá vỡ. Hoài vọng của con người là làm sao có thể biết được thế giới chúng ta đang sống có đối xứng không và nếu như đối xứng đã bị phá vỡ thì chúng bị phá vỡ như thế nào, đâu là đối xứng đã mất.

Một con lừa đứng giữa hai bó cỏ giống nhau. Con lừa phân vân lưỡng lự không biết chọn bó cỏ nào ngon hơn. Con lừa đang ở tâm điểm đối xứng giữa hai bó cỏ. Con lừa sẽ chết đói vì không biết chọn bó cỏ nào và đối xứng giữa hai bó cỏ sẽ được bảo toàn. Nhưng thực tế có phải vậy không? Liệu con lừa có thể chết đói không? Không, con lừa sẽ chọn một bó cỏ để xơi. Cái đối xứng giữa hai bó cỏ đấy đã bị phá vỡ. Phá vỡ vì sự sống. Một phá vỡ hoàn toàn tự phát. Giống như câu chuyện của con lừa, tự nhiên phá vỡ đối xứng của mình một cách tự phát để hưởng lợi. Cái lợi thu được là sự ổn định, bền vững và trường tồn.

Những quy luật vật lý của tự nhiên thường được thể hiện qua các lý thuyết, mô hình, phương trình. Toàn bộ cơ học ở thế giới vĩ mô được mô tả bằng ba định luật Newton bất hủ. Cơ học Newton của một hệ vĩ mô bất biến khi tiến hành một phép quay hay phép tịnh tiến lên hệ. Nói một cách khác cơ học Newton có tính đối xứng của phép quay và phép tịnh tiến, giống như chiếc lá phong mùa thu bất biến khi ta soi nó qua một mặt gương dọc theo sống lá. Nhưng khác với đối xứng của chiếc lá phong, đối xứng trong cơ học Newton không phải là đối xứng của hình khối, mà là đối xứng trong chuyển động của các vật chất. Thực tế cuộc sống trên trái đất cho thấy quả táo chỉ có thể rơi xuống theo chiều thẳng đứng. Nó không thể bay lên hay bay ngang nếu ta không ném nó, tức là ta phải tác động thêm một lực vào quả táo. Như vậy có một hướng trong không gian, hướng thẳng đứng xuống, có ưu thế hơn so với các hướng khác. Tính đối xứng đẳng hướng đã bị phá vỡ. Sự phá vỡ đối xứng ở đây không phải tự phát. Đối xứng bị phá vỡ do sự có mặt của trái đất. Trái đất đã tạo ra một trường lực, trường hấp dẫn, tác động lên quả táo, và trường này đã phá vỡ tính đối xứng đẳng hướng. Quả táo rơi xuống mặt đất vì làm như vậy nó sẽ thu được lợi về năng lượng. Nếu ta ném quả táo bay lên, ta phải tiêu tốn một lượng năng lượng nhất định. Cũng giống như vậy các dòng sông đều trôi ra biển, chúng trôi từ nơi cao xuống nơi thấp để thu lợi về năng lượng. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà đối xứng đẳng hướng đã không còn nữa. Chỉ có trong thơ ca các dòng sông mới chảy lên trời như Vương Chi Hoán, một nhà thơ thời Đường, từng viết "Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian", Hoàng hà xa xa đang leo lên đám mây trắng. Câu thơ của Vương Chi Hoán như một hoài vọng về đối xứng đã mất, đã không còn nữa, những gì còn lại chỉ là một huyễn ảo mê hoặc tâm can con người.

Như vậy đối xứng có thể bị phá vỡ. Chúng có thể bị phá vỡ một cách tự phát, hay bị một trường ngoài cưỡng bức phá vỡ. Rừng phong vàng rực trong chiều thu là một phong cảnh rất quyến rũ. Để có một màu vàng rực đó mỗi chiếc lá phong đã phải đỏ vàng khi gió thu về. Mỗi chiếc lá phong riêng rẽ lại có những đối xứng của riêng mình như đối xứng qua mặt gương dọc theo sống lá. Mỗi chiếc lá phong lại được cấu tạo từ vô số nguyên tử nhỏ bé. Mỗi nguyên tử nhỏ bé lại được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn, điện tử và nucleon. Các nucleon lại được cấu tạo từ các hạt nhỏ hơn nữa, các hạt quark. Các hạt quark được coi như là những viên gạch nền tảng xây dựng toàn bộ thế giới này. Giống như trong rừng phong, mỗi chiếc lá phong có tính đối xứng của mình, dưới cấu trúc nguyên tử, các hạt cơ bản cũng có những tính đối xứng của mình. Giống như chiếc lá phong, trong thế giới các hạt cơ bản có đối xứng gương hay đối xứng chẵn lẻ, tức là đối xứng mà các tọa độ không gian bị lật ngược lại như phản chiếu qua một tấm gương. Nếu như chúng ta lật đi rồi lại lật tiếp thì không gian lại trở về như cũ. Do đó chỉ có hai khả năng có thể xảy ra, hoặc trạng thái của hạt không thay đổi, hoặc trạng thái đổi dấu khi ta lật một lần các tọa độ không gian. Chính vì đặc điểm này mà đối xứng gương trong thế giới các hạt cơ bản còn được gọi là đối xứng chẵn lẻ. Các hạt có tính đối xứng chẵn nếu trạng thái của nó không đổi dấu khi các tọa độ không gian lật qua tấm gương, là là lẻ khi ngược lại. Người ta ký hiệu đối xứng này bằng chữ P, chữ cái đầu của từ Parity, tính chẵn lẻ. Bên cạnh đối xứng gương, các hạt cơ bản còn có đối xứng điện tích. Đối xứng điện tích là đối xứng khi điện tích hạt bị đổi dấu ngược lại. Electron đổi dấu điện tích trở thành positron. Người ta còn gọi các hạt có cùng khối lượng nhưng khác dấu điện tích là phản hạt. Phép đối xứng điện tích biến các hạt thành phản hạt của chúng. Phép đối xứng này được ký hiệu bằng chữ C, chữ cái đầu của từ Charge, điện tích. Đối xứng khác nữa của thế giới các hạt cơ bản là đối xứng thời gian. Đối xứng thời gian là thời gian đổi chiều ngược lại, từa tựa như một bộ phim bị tua ngược lại. Đối xứng thời gian được ký hiệu bằng chữ T, chữ cái đầu của từ Time, thời gian. Người ta nhận thấy tự nhiên tôn trọng đối xứng CPT, có nghĩa là khi thế giới được đối xứng qua gương, các vật chất biến thành phản vật chất và thời gian quay ngược lại thì cái thế giới đấy sẽ giống y chang như cái thế giới này. Trong cái thế giới đối xứng qua gương đó, một phản-tôi đang ngồi viết những dòng chữ này khi thời gian lùi về quá khứ. Nhưng dưới tổ hợp đồng thời 3 đối xứng đấy, tự nhiên có còn tôn trọng các tổ hợp đối xứng khác nữa không? Đầu tiên người ta nghĩ đến đối xứng P, đối xứng gương hay đối xứng chẵn lẻ. Liệu có hai thế giới giống như nhau nhưng tính chẵn lẻ khác nhau? Tất cả các vật chất trong tự nhiên chịu sự chi phối của 4 loại tương tác cơ bản: tương tác hấp dẫn giữa các vật có khối lượng, tương tác điện từ giữa các điện tích, tương tác yếu giữa các hạt cơ bản bằng cách trao đổi các hạt boson nặng, và tương tác mạnh giữa các hạt quark và gluon. Đối với tương tác điện từ, tương tác giữa các điện tích và tương tác mạnh, tương tác giữa các hạt trong hạt nhân, tính đối xứng chẵn lẻ được tôn trọng. Nhưng đối với tương tác yếu, tương tác đã khiến cho mặt trời và các vì sao phát sáng, người ta ngờ rằng đối xứng gương không được tôn trọng. Dương Chấn Ninh (Chen-Ning Yang) và Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee) đã giải quyết vấn đề này và hai ông đã được trao giải thưởng Nobel về lý thuyết tính đối xứng chẵn lẻ bị vi phạm trong tương tác yếu. Trong đóng góp về khám phá đối xứng này không thể không nói đến một người phụ nữ, nhà vật lý gốc Trung Quốc, Ngô Kiện Hùng (Chien-Shiung Wu), một người phụ nữ có tên gọi rất giống đàn ông. Bà là người đã tiến hành thí nghiệm khẳng định lý thuyết của họ Dương và Lý rằng tương tác yếu đã vi phạm tính chẵn lẻ. Một người phụ nữ trong xã hội Trung Hoa có học vấn trên đại học thưở còn Trung Hoa dân quốc đã là một điều khó. Người phụ nữ đó lại có những đóng góp cơ bản cho nhận thức của nhân loại về tự nhiên quả là một điều phi thường. Nếu đối xứng P đã bị vi phạm thì liệu đối xứng CP có thể được không? Đối xứng CP là đối xứng qua gương và đồng thời hạt biến thành phản hạt. Liệu có một thế giới chẵn và một phản thế giới lẻ giống như nhau không? Khác với đối xứng gương trước đây, lý thuyết đi trước thực nghiệm, lần này thực nghiệm phát hiện trước đối xứng CP bị vi phạm trong một thí nghiệm phân rã một loại hạt meson có tên là kaon. Với phát hiện này hai nhà vật lý Cronin và Fitch đã được trao giải thưởng Nobel. Đối xứng CP bị vi phạm cho thấy các quy luật vật lý trong thế giới vật chất và thế giới phản vật chất khác nhau. Vấn đề đối xứng CP bị vi phạm đặt ra cho nhà vật lý lý thuyết đi tìm câu trả lời tại sao tự nhiên lại làm như vậy? Hai nhà vật lý Nhật Bản Kobayashi và Maskawa đã tìm ra đúng câu trả lời. Để trả lời câu hỏi về bí ẩn của đối xứng CP một cặp hạt quark nữa cần phải đưa vào trong lý thuyết tính toán. Kết quả là lý thuyết cần 6 hạt quark, tạo thành 3 cặp thế hệ. Với lý thuyết về đối xứng phá vỡ cùng với tiên đoán ba cặp hạt quark đã đem lại cho Kobayashi và Maskawa giải thưởng Nobel năm 2008.

Kết quả của câu chuyện về con lừa và đối xứng giữa hai bó cỏ bị phá vỡ tự phát là con lừa no bụng. Vậy tự nhiên khi làm đối xứng bị phá vỡ một cách tự phát thì có phát sinh ra gì không? Khi đối xứng bị phá vỡ một cách tự phát có một loại hạt boson không có khối lượng xuất hiện. Người ta gọi đó là hạt boson Goldstone hay Nambu-Goldstone để kỷ niệm hai nhà vật lý đã tìm ra lý thuyết về chúng. Mặc dù tên gọi hạt boson Goldstone được phổ biến hơn, nhưng công trình của Nambu lại xuất hiện trước công trình của Goldstone. Tuy nhiên cũng phải nói rằng Goldstone phát biểu định lý về phá vỡ đối xứng tự phát này một cách rõ ràng hơn Nambu. Mặc dù vậy giải thưởng Nobel năm nay lại trao cho Nambu về khám phá cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát trong vật lý hạ nguyên tử. Ủy ban giải thưởng Nobel đã rất cẩn thận khi viết rõ rằng đây là giải thưởng cho lý thuyết đối xứng tự phát trong vật lý hạ nguyên tử, không phải là lý thuyết đối xứng tự phát nói chung. Câu chuyện về phá vỡ đối xứng tự phát sẽ không dừng lại ở đây. Tháng trước một máy gia tốc hạt cực mạnh đời mới LHC của CERN ở Geneva bắt đầu chạy trong cuộc tìm kiếm hạt Higgs, một loại hạt xuất hiện khi có phá vỡ đối xứng tự phát trong lý thuyết chuẩn. Đây là cuộc tìm kiếm được cho là kỳ vọng nhất hiện nay và hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn trong công cuộc đi tìm đối xứng đã mất của tự nhiên.

Khi viết về Nghệ thuật tiểu thuyết Kundera có dẫn mấy câu thơ của Skacel:

Các nhà thơ không sáng chế ra các bài thơ
Bài thơ nằm đâu đó ở phía sau kia
Lâu lắm rồi nó vẫn ở đó
Nhà thơ chỉ có việc khám phá ra nó.


Vật lý cũng giống như thơ. Các nhà vật lý không sáng chế ra các lý thuyết. Các lý thuyết nằm ở đâu đó đằng sau kia và họ chỉ có việc khám phá ra nó. Khám phá ra các lý thuyết - những bài thơ của tự nhiên, những vẻ đẹp của tự nhiên luôn là những điều hấp dẫn. Trên con đường khám phá đó nếu anh không khám phá được gì thì đó cũng không phải là một điều đáng chán vì trên con đường đấy anh đã có được những thẩm mỹ về vẻ đẹp quyến rũ đến nao lòng của tự nhiên. Nghe nhạc không thấy hay, xem tranh không thấy thích, đó là một sự thiệt thòi và cũng là một khiếm khuyết về thẩm mỹ. Trước vẻ đẹp của tự nhiên, từ vũ trụ bao la đến các hạt bé tí, từ thời gian vô cùng đến một sát na, nếu không cảm được vẻ đẹp của chúng thì đấy cũng là một thiệt thòi và cũng là một khiếm khuyết về thẩm mỹ.