Nhiều người biết câu thơ này. Ngô đồng nhất diệp lạc. Câu thơ tiếp theo thấy chép lộn xộn. Thiên hạ cộng tri thu, Thiên hạ cộng bi thu, Thiên hạ tận tri thu. Nguyên thủy không biết hai câu thơ này của ai. Quảng quần phương phổ chép là "Thiên hạ tận tri thu". Một chiếc lá ngô đồng rụng, hết cả thiên hạ đều biết là mùa thu. Khác với, một chiếc lá ngô đồng rụng, thiên hạ cùng biết là mùa thu. Quảng quần phương phổ có lẽ là cái gốc cuối cùng truy nguyên hai câu thơ này.
Cây ngô đồng ở Trung Quốc hơi khác với cây ngô đồng ở châu Âu. Lá cây ngô đồng Trung Quốc chia thành thùy hình chân vịt rõ nét, như ảnh ở dưới đây
Cây ngô đồng ở châu Âu có lá như ảnh dưới đây (có lẽ phải gọi là cây phong vì có gốc latin là acer)
Cây ngô đồng ở Việt Nam như thế nào?
Chiều chiều ra đứng tây lầu tây
Thấy cô tang tình gánh nước
Tưới cây, tưới cây ngô đồng
Bài lý này nhắc về một lầu tây. Nhất định phải là tây. Không thể là đông, nam, bắc. Cứ như là một quy định, không thể xê dịch. Chỉ có ở lầu tây mới có đôi lứa nhớ nhung, mới có buồn vương sầu nhớ. Lầu đông, lầu nam không cho cảm giác như vậy. Ứng tác dân gian đã tuân theo những ước lệ điển cố mang đặc điểm của một định hình văn hóa. Sử dụng sai những ước lệ tạo ra các lệch nhịp về văn hóa, thông điệp truyền tải sẽ không được đảm bảo tiếp nhận một cách nhất quán trong thẩm mỹ. Nếu lầu tây là một thông điệp nói về tình yêu thì ngô đồng lại là một thông điệp về mùa thu. Mùa thu và lầu tây là đôi lứa, là nhớ nhung, là buồn thương, xa cách, là nỗi hận trong lòng, là sự biệt ly không tránh khỏi. Bài lý chỉ cần hai từ, lầu tây và ngô đồng, để làm trụ cột cho toàn bài. Hiếm có những ứng tác dân gian mang tính thẩm mỹ hàn lâm như vậy.
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồngVàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông